ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP GIÁO TRÌNH DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ CHI TIẾT

Câu 1 :Phân tích vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số trong nền văn hóa Việt Nam.

- Bảo lưu thuần phong mỹ tục, phong tục tập quán. Vậy thuần phong mỹ tục có nghĩa là gì : thuần : thuần túy , không pha tạp. Mỹ : đẹp. phong tục : lề thói, thói quen. Thuần phong mỹ tục gộp nghĩa chung có nghĩa là các thói quen, lề thói đẹp và không pha tạp.

VD:  Ví dụ trong việc bảo lưu các giá trị văn hóa của dân tộc thiểu số đó chính là tục đội khăn phiêu của người dân tộc Thái: Khăn piêu là 1 loại khăn đội đầu của phụ nữ Thái, có thể xem là một đặc trưng văn hoá. Nhìn khăn đội đầu, người ta có thể phân biệt được người đó thuộc dân tộc nào, thậm chí có thể phân biệt được các ngành khác nhau trong cùng một dân tộc. Khăn piêu của phụ nữ Thái đen dệt bằng sợi bông nhuộm màu chàm tím sẫm, có độ dài chừng một sải tay. Mặt khăn piêu gọi là Nả piêu, được thêu bằng những đường chỉ ngũ sắc, tạo ra những đường dây hoa văn, gọi là dây Sài peng (dây tình). Khi đã tìm hiểu nhau rồi, đi đến đính ước, thì khăn piêu trở thành vật tin. Piêu là quà biếu khi về nhà chồng, là sợi dây tình. Và cũng có thể là vật dâng cúng trong ngày lễ. Ngày nay, việc đội khăn piêu vẫn được duy trì trong cộng đồng dân tộc Thái.

- Tăng cường tính cố kết cộng đồng :ý thức cộng đồng có thể hiểu là tổng thể những tư tưởng, quan điểm, tâm trạng, thói quen, cách hành xử,v.v.. thể hiện thái độ của con người, của các nhóm xã hội đối với cộng đồng. Nói cách khác đó là sự quan tâm, cư xử của mỗi người, của mỗi nhóm xã hội, mỗi tổ chức với cộng đồng xung quanh. Ở VN, tính cố kết của cộng đồng được thể hiện rõ nhất trong việc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Ngày nay, khi chiến tranh đã chấm dứt thì tính cố kết cộng đồng được thể hiện rõ nét nhất qua việc tổ chức các lễ hội.

Vd: Việc tổ chức các lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm là 1 trong những cơ hội để nâng cao tính cố kết cộng đồng, tiêu biểu như lễ hội lồng tồng của người dân tộc Tày, đây k chỉ là hoạt động nhằm tạ ơn thần linh, mà còn nhằm tăng cường tính cộng đồng trong làng bản, giải quyết các bất hòa của các cá nhân thông qua việc chuẩn bị các lễ vật để cúng thần linh và các sinh hoạt vui chơi chung tại nhà sàn.


HOT! TOP 5 trang web khóa học Online Uy Tín và Chất Lượng TỐT NHẤT:

  Học Mãi
 Unica

 Monkey Junior
 Kyna (Có nhiều khóa học Miễn Phí)
 kynaforkids

- giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc ( trang phục, ngôn ngữ, nếp sống gia đình, giáo dục trong gia đình, dân ca....) mỗi dân tộc thiểu số đều có 1 nền văn hóa riêng không bị lẫn với các dân tộc khác.

Vd: Mỗi dân tộc đều có một loại trang phục truyền thống riêng : nếu người kinh có trang phục truyền thống là áo dài thì người Tày Nùng thường mặc những bộ trang phục có màu chàm có hoa văn trang trí trên vải. Người Thái lại mặc những bộ trang phục cầu kỳ và duyên dáng hơn với áo ngắn : với hàng cúc bạc hoặc kim loại bên trên, áo dài , váy , thắt lưng , khăn , nón , xà cạp , các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và xà tích. Người Thái đen và người Thái trắng được phân biệt bởi màu sắc của trang phục mặc trên người.

- Bình ổn xã hội ( lễ nghi, tín ngưỡng dân gian )

Vd: Đối với người Kinh, nếu làm điều sai trái thì sợ bị phát hiện và phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Tuy nhiên, đối với hầu hết các dân tộc thiểu số, không chịu ảnh hưởng nhiều bởi pháp luật thì người ta lại sợ bị thần linh trừng phạt vì cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên cho nên họ có niềm tin và sự sùng bái đối với các yếu tố siêu nhiên này. Chính điều này đã hạn chế các hành vi sai trái của các cá nhân trong các dân tộc thiểu số.

- Phát triển bền vững tri thức dân gian bản địa.

Vd: Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa dân gian khác nhau. Nhờ có các dân tộc thiểu số mà các tri thức dân gian này được bảo tồn và phát triển qua thời gian. Tiêu biểu như các dân tộc thiểu số thường xác định thời gian bằng cách xem vị trí của mặt trời, xác định hướng đi trong rừng bằng hướng lá hoặc hướng nước chảy.

Câu 2: Tại sao nói văn hóa vùng Tây Bắc là sự nổi trội của văn hóa Thái:

õ Khái quát vùng Tây Bắc :

Tây Bắc được xem là vùng có địa hình hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng TB-ĐN. Là nơi sinh sống của trên 20 tộc người, đông nhất là người Thái và người H'Mông. Đây là vùng có vị trí chiến lược trong an ninh quốc phòng của quốc gia.

õ Đặc điểm của sự nổi trội :

- Sự nổi trội của văn hóa Thái trước hết nằm ngay trong đặc điểm sinh thái tộc người:

Kiến trúc nhà sàn : Nhà sàn của người Thái gồm có 2 loại:Loại mái mui rùa của người Thái Đen và loại 4 mái phẳng của người Thái trắng. Đây là lối kiến trúc đặc trưng của người Thái nói riêng và của người dân vùng Tây Bắc nói chung.

Nghệ thuật ẩm thực :Với những món ăn được chế biến công phu, độc đáo, ẩm thực truyền thống của dân tộc Thái vùng Tây Bắc được xem là cách truyền tải hữu hiệu nhất nét văn hóa của dân tộc. Các món ăn nổi tiếng là : cá nướng,thịt trâu hun khói,cơm lam,xôi ngũ sắc.

Sự tinh tế trong bộ trang phục : Trang phục của dân tộc Thái được coi là một trong những trang phục truyền thống cầu kỳ và duyên dáng với áo ngắn : có hàng cúc bạc hoặc kim loại bên trên, áo dài , váy , thắt lưng , khăn , nón , xà cạp , các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và xà tích. Người Thái đen và người Thái trắng được phân biệt bởi màu sắc của trang phục mặc trên người.

Chữ viết cổ : Người Thái sử dụng thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữ Thái-Kadai.

Là dân tộc của thơ ca : Dân tộc Thái rất yêu mến thơ ca. Thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao... là những vốn quý báu của văn học cổ truyền người Thái. Những tác phẩm thơ ca nổi tiếng của dân tộc Thái là: Xống chụ xon xao, Khun Lú Nàng Ủa.

- Sự nổi trội còn thể hiện ở khả năng lan tỏa và ảnh hưởng mang tính khu vực của văn hóa Thái :

Nhà cửa : Nhà của người Thái được sử dụng ở khắp mọi nơi. đặc điểm ngôi nhà sàn của người Thái rất giống với nhà của người Tày - Nùng.

Tổ chức dòng họ :Là cách thức tổ chức phổ biến nhất trong vùng.

Ngôn ngữ : Hệ ngôn ngữ Tày - Thái là hệ ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất ở các tỉnh trong khu vực Tây Bắc.

õ Nguyên nhân nổi trội của văn hóa Thái :

Liên quan đến nguồn gốc và quá trình lịch sử tộc người của các tộc người vùng Tây Bắc - quá trình hỗn dung văn hóa của người Thái với các nhóm bản địa để kết tinh, thu nhận và hòa quyện lại thành văn hóa Thái như ngày nay.

- Dân số Thái ở Tây Bắc đông nhất trong số hơn 20 dân tộc ở Tây Bắc.

- Xã hội cổ truyền của dân tộc Thái là xã hội tiêu biểu của dạng phong kiến sơ kỳ đã có sự phát triển cao.

- Văn hóa Thái mang tính lan tỏa cao.

- Cùng với ưu thế về số lượng dân cư và trình độ phát triển xã hội thì sức hút và lan tỏa của dân tộc Thái ở Tây Bắc còn là bởi trong nó đã thu nạp được những yếu tố chung đại diện cho văn hóa vùng.

õ Ngoài ra, sự nổi trội còn là do văn hóa của dân tộc Thái còn bảo lưu được nhiều yếu tố bản địa :

- Bảo lưu được chữ Thái cổ, văn học dân gian và lưu giữ được nhiều nét cổ truyền của dân tộc.

- Tín ngưỡng sơ khai bản địa ít chịu ảnh hưởng bởi yếu tố du nhập.

- Thầy cúng bản địa : Thầy mo.

- Các nghi lễ đơn giản trong đời sống hằng ngày.

- Làm nhà mồ cho người chết.

- Văn hóa vật chất của người Thái còn bảo lưu được những giá trị văn hóa truyền thống hơn so với các dân tộc khác trong vùng và các vùng khác.

Câu 3: Phân tích hiện trạng dân tộc thiểu số Việt Nam

- Mất dần một số yếu tố văn hóa dân gian cổ truyền do sự giao lưu, tiếp biến các yếu tố văn hóa du nhập. Do sự xâm nhập về văn hóa của các vùng văn hóa khác nhau và hơn hết là việc khai thác phục vụ cho nhu cầu du lịch làm cho một số yếu tố văn hóa mất dần đi hoặc có nhiều sự biến đổi khác nhau.

Ví dụ : Một số lễ hội của các dân tộc đang dần mất đi những nét đẹp truyền thống và có nhiều thay đổi để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Ví dụ như chợ tình Sa Pa của các dân tộc cư trú tại đây.

- Có sự biến đổi các yếu tố cổ truyền để đáp ứng nhu cầu cuộc sống đương đại. Cuộc sống ngày càng hiện đại,nhu cầu của con người cũng có sự thay đổi dẫn tới sự biến đổi của các yếu tố truyền thống.

Ví dụ : Ngày nay, việc đi xem các lễ hội cổ truyền, xem biểu diễn các làn điệu dân ca đã không còn phổ biến nữa do sự xuất hiện của các loại máy ghi hình, máy phát thanh nên người ta có thể xem ngay tại nhà mình.

- Một số loại hình văn hóa cổ truyền vẫn tiếp tục tồn tại trên cơ sở đã có sự biến đổi cho phù hợp với cuộc sống ngày nay ( nghi lễ vòng đời người )

Ví dụ tiêu biểu nhất đó chính là trong những nghi lễ của vòng đời người. Từ khi sinh ra đến lúc mất đi, con người thực hiện rất nhiều nghi lễ. Nhưng hiện nay, một số đã bị đơn giản hoặc lược bỏ đi. Dân tộc khơ me trước đây thường tổ chức nghi lễ trưởng thành,tuy nhiên, hiện nay rất ít người tổ chức nghi lễ này.

- Xu hướng lai tạp văn hóa.Do sự du nhập của nhiều nền văn hóa khác nhau, sự di cư và tác động của hoạt động du lịch làm cho nền văn hóa của các dân tộc thiểu số bị lai tạp với nhau tiêu biểu là trong trang phục và nhà ở.

Ví dụ : Ngày nay,các dân tộc thiểu số đã biết mặc đồ Tây, áo vest. Thường ngày, họ thường mặc áo phông, quần jean thay vì những bộ trang phục truyền thống để thuận tiện cho việc du lịch. Nhà ở cũng đã được xây bằng bêtông.

- Thương mại hóa một số loại hình nghệ thuật biểu diễn, sản phẩm may mặc để phục vụ cho hoạt động du lịch.

Ví dụ : Các sản phẩm thủ công và các món ăn truyền thống của các dân tộc thiểu số đã được sử dụng để làm quà lưu niệm cho du khách : rượu cần,các loại thổ cẩm...

- Xuất hiện nhiều yếu tố văn hóa nghệ thuật mới như nhà văn hóa thưởng thức văn hóa nghệ thuật, phương tiện thông tin đại chúng .

Ví dụ : Ngày nay, người dân của các dân tộc thiểu số đã biết sử dụng xe máy để di chuyển, điện thoại di động để liên lạc với nhau.

Câu 4 : Trình bày hiện trạng văn hóa dân gian của dân tôc Tày và Nùng ở Đông Bắc Việt Nam?

       Ngày nay,do sự tác động của Toàn cầu hóa cũng như việc giao lưu giữa các dân tộc với nhau, đặc biệt là bởi hoạt động du lịch mà nền văn hóa dân gian của các dân tộc Tày và Nùng ở vùng Đông Bắc Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi. Trong đó, xu hướng chủ yếu đó chính là mai một và biến đổi.

Trong các hoạt động văn hóa :

Các phong tục tập quán như ma chay, tang ma,thờ cúng tổ tiên vẫn được lưu truyền đến ngày nay. Tuy nhiên, do tác động của du lịch, các hoạt động văn hóa của các dân tộc Tày và Nùng đang dần bị thương mại hóa :

Các lễ hội truyền thống hằng năm đã bị biến đổi biến đổi ít nhiều nhằm phục vụ nhu cầu của khách du lịch.

Các nghi thức vòng đời người đã bị loại bỏ hoặc đơn giản hóa, hiện đại hóa.

 Nhà ở :

Sự biến đổi của nhà cửa là dễ nhận ra nhất. Với các cư dân ven sông Hồng như người Tày trước đây cư trú trên những ngôi nhà sàn thì nay những ngôi nhà truyền thống ấy của họ ngày càng ít dần mà từ nhà sàn chuyển sang nhà đất.

Vật liệu xây dựng nhà cửa giờ đây là các vật liệu công nghiệp: Gạch ngói, xi măng, sắt thép, tấm lợp bằng tôn…. Gỗ, tre, các loại lá rừng dần dần vắng bóng. Phần trang trí nội thất thì giờ đây gần như là “bê nguyên” trang trí nội thất của người Kinh với sa lông phòng khách, với bàn ghế, giường tủ kê ở các vị trí hợp lý.

Trang phục :

       Trước đây phụ nữ mặc váy, nhưng gần đây phổ biến mặc quần; đó là loại quần về nguyên tắc cắt may giống nam giới kích thước có phần hẹp hơn tạo nên một bộ trang phục tiện dụng, tiết kiệm là sự lựa chọn rất tự nhiên để người ta thay thế các bộ trang phục truyền thống vốn đòi hỏi sự cầu kỳ, đòi hỏi lệ bộ rất phức tạp.

Với các đối tượng là nam giới hay đại bộ phận trẻ em trong tuổi đến trường thì nhìn vào trang phục không còn phân biệt được họ thuộc thành phần tộc người nào. Đặc biệt, những người đàn ông thoát ly gia đình, làm việc trong các cơ quan nhà nước thì hầu như bị “đồng hóa” hoàn toàn về mặt trang phục

Trang sức :

Các loại vòng cổ, vòng tay hầu như không còn được đeo nữa, trừ trẻ em, thường được đeo vòng bạc với mục đích theo dõi sức khỏe hơn là làm đẹp. Tục bịt răng vàng phổ biến trước đây thì bây giờ cũng biến mất. Tục ăn trầu nhuộm răng đen cũng đang mất dần. Các đồ trang sức bằng kim loại quý như nhẫn vàng hay các loại đồng hồ đắt tiền giờ đây được ưa chuộng.

Ăn uống:

       Các món ăn truyền thống vẫn được lưu truyền đến ngày nay. tuy nhiên.

       Từ việc ăn gạo nếp các cư dân Tày và Nùng Việt Nam ngày nay về cơ bản đã chuyển sang ăn tẻ do tác động của sự gia tăng dân số.Chuyển từ ăn nếp sang ăn tẻ là người ta phải thay đổi từ sở thích đến cách chế biến, cách ăn. Nghĩa là, phải thay đổi những thói quen đã trở thành các tập tục văn hóa.

đồ uống là rượu siêu, rượu cần thì bây giờ đang có sự lấn sân của các đồ uống có cồn được nhập khẩu từ bên ngoài vào. Các loại bia, các loại nước ngọt có ga, kể cả các loại rượu mạnh đều góp mặt ở xứ này.

Các món ăn truyền thống nay đã được sử dụng để phục vụ nhu cầu của khách du lịch.

Phương tiện đi lại :

ngày nay do mạng lưới giao thông phát triển, các loại xe gắn máy, xe cơ giới có mặt ở khắp nơi nên các phương tiện đi lại, vận chuyển đã rất đa dạng. Trước đây, ngoài phương tiện đường thủy, người ta dùng đôi chân đi bộ thì giờ đây xe đạp, xe máy, ôtô được sử dụng rất phổ biến. Không ít những người dân miền núi đã biết đến phương tiện đi lại hiện đại và đắt tiền là máy bay.

Nhận xét :

Những sự biến đổi của dân tộc Tày Nùng chủ yếu là cho do quá trính công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là phù hợp với xu hướng biến đổi của xã hội ngày nay

Tuy có sự biến đổi trên nhưng các văn hóa truyền thống của người Tày và Nùng vẫn còn lưu giữ và bảo tồn được những giá trị và các nét đặc trưng. Nhà sàn của người Tày và Nùng vẫn là nơi sinh hoạt văn hóa chung của người dân nơi đây. Những người trung niên, những người cao tuổi vẫn còn mặc các trang phục truyền thống. Trong đám cưới, đám tang của người Tày Nùng thì bộ trang phục mặc trên người vẫn mang đậm nét truyền thống của dân tộc mh.

Câu 5 : Trình bày và phân tích đặc điểm các dân tộc thiểu số Việt Nam ?

 Khái quát về đặc điểm các tộc người thiểu số :

- Các tộc người thiểu số ở Việt Nam có nguồn gốc và đặc điểm di cư khác nhau, dân số k đồng đều.

VD: Các dân tộc đông nhất : Thái, Hoa, Tày, Mường có dân số vào khoảng 100,000 đến 1 triệu người.

Các dân tộc ít dân nhất : Brâu, Rơ- măn,ơ- đu dân số vào khoảng 100 đến 1000 người.

- Các tộc người thiểu số ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ

VD : Trong một tỉnh thường có nhiều dân tộc cư trú chung với nhau: ở Sapa có các dân tộc : Dao,Tày, giáy,Phó. NgườiTày thường tập trung cư trú ở vùng trung du và miền núi phía Bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng. ngoài ra còn cư trú  ở một số tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk và Lâm Đồng.

- Các tộc người thiểu số ở Việt Nam chủ yếu cư trú ở các vùng rừng núi, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái.

VD : Dân tộc Dao cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ biên giới quốc gia.

- Các tộc người thiểu số ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội k đều.

VD : Do số lượng người và địa bàn cư trú khác nhau nên giữa các dân tộc thiểu số có sự khác biệt về trình độ. Các dân tộc có dân số đông và sinh sống xen kẽ với dân tộc Kinh như Thái, Tày thường có trình độ phát triển văn hóa cao hơn so với các dân tộc khác.

- Các tộc người thiểu số Việt Nam có truyền thống đoàn kết trong đấu trang dựng nước và giữ nước, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất.

VD: Điều này được thể hiện rõ nhất qua các sử thi của các dân tộc thiểu số, qua các anh hùng tiêu biểu như a hùng Núp trong công cuộc tham gia giải phóng đất nước.

õ Những đặc điểm cơ bản của văn hóa các tộc người thiểu số ở Việt Nam :

+ Sự đa dạng của văn hóa các tộc người :

* Đa dạng văn hóa ngôn ngữ :

- Nhóm ngôn ngữ Nam Á ( chiếm 36/54 dân tộc tính cả người Kinh ) gồm có :

Nhóm văn hóa Việt - Mường. Nhóm ngôn ngữ Môn- khmer. Nhóm ngôn ngữ Tày- Thái. Nhóm ngôn ngữ H'Mông- Dao

- Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo ( chiếm 5/54 dân tộc) gồm có : nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo.

- Nhóm ngôn ngữ Hán-Tạng ( chiếm 9/54 dân tộc ) gồm có : nhóm ngôn ngữ Tạng - Miama. Nhóm ngôn ngữ Hán

- Ngoài 3 nhóm văn hóa ngôn ngữ trên còn có một số ngôn ngữ khác được gọi là nhóm văn hóa ngôn ngữ kadai.

* Đa dạng về loại hình văn hóa bản làng :

Tên gọi KT-XH VH dân gian
 

Loại hình buôn ( Tây Nguyên-Trường Sơn ). Chế độ xh cuối thời kỳ công xã nguyên thủy

Nương rẫy là chủ yếu. Chưa có trâu bò làm sức kéo, chủ yếu dùng cuốc. Trong xã hội chưa phân biệt giai cấp. - Trâu bò làm vật cúng thần

- Chưa có văn hóa bác học.

- VHDG là do all mọi người cùng thực hiện.

Loại hình buôn sóc (Khmer Nam Bộ ) Không có giai cấp, việc quản lý xã hội có 2 dòng : quản lí dân sự và quản lí nhà chùa. VH  phát triển cao, có nhiều truyện kể, thơ ca, kịch hát, nhạc ngữ âm, nghề thủ công phát triển
Loại hình bản Mường ( Mường Thái ) chế độ phong kiến thời kỳ đầu - Làm nông nghiệp lúa nước, nương rẫy.

- Bắt đầu dùng trâu bò làm sức kéo. Bắt đầu có sự phân biệt giai cấp, có tầng lớp trên.

Bắt đầu có người làm chức dịch ghi chép lại văn hóa dân gian để phục vụ tầng lớp trên. dần có Vh bán chuyên nghiêp ( ông mo, then)
Loại hình xóm làng người Kinh Có phân biệt giai cấp, phân biệt người giàu kẻ nghèo. Văn hóa từ chỗ có tính cộng đồng cao đã mang tính cá nhân phục vụ cho 1 số người

* Đa dạng các thành tố văn hóa dân gian :

- Văn học dân gian ( truyện cổ tích các dân tộc, truyện thơ, sử thi )

- Nghệ thuật tạo hình dân gian ( nhà ở Tây Nguyên, Việt Bắc...thổ cẩm )

- Nghệ thuật biểu diễn ( cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca, nghi lễ tang ma, cưới xin, dân ca giao duyên ).

- Tri thức dân gian ( tri thức dân gian trong lao động sản xuất ).

- Tín ngưỡng dân gian ( các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của các dân tộc ).

õ Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của các tộc người :

* Nguyên nhân:

- Do các tộc người có cùng nguồn gốc.

- Sống xen kẽ, cộng xư, hôn nhân khác tộc.

* Đặc điểm :

- Có sự giao lưu, tiếp thu, ảnh hưởng lẫn nhau giữa văn hóa của các dân tộc.

- Từ giao lưu, tiếp thu đến tiếp biến, hình thành nên yếu tố văn hóa mới.

- Giao lưu, tiếp biến văn hóa các tộc người thiểu số với văn hóa người Kinh ( Tày-Kinh).

- Giao lưu, tiếp biến văn hóa các tộc người thiểu số vơi nhau ( Tày- Nùng- Giao).

- Giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tôc người trong nước với các tộc người ở nước ngoài ( Tày- Choang )

* Sự bảo lưu các yếu tố văn hóa đặc sắc :

Do đa dạng về loai hình văn hóa mà ở các tôc người còn bảo lưu được nhiều yếu tố đặc sắc :

- Sử thi và cồng chiêng Tây Nguyên.

- Hát dân ca : nghi lễ và giao duyên.

- Múa nghi lễ ( múa thiêng), múa sinh hoạt ( xòe Thái ).

- Shaman của các tộc người thiểu số ( Then : Tày việt bắc, nhảy lửa của người pà Then ).

-Lễ hội và phong tục cổ truyền :Lễ hội nàng Hai, lễ hội then, mo của người Tày Nùng Thai ).

Câu 6 : Các giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên trong xã hội hiện đại. VD?

       Hiện nay, các giá trị văn hóa truyền thống ở Tây Nguyên đang có nhiều sự biến đổi. Nhiều di sản văn hóa cổ truyền đâng bị mai một và biến đổi. Do đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa là rất cần thiết.

õ Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể :

Gía trị văn hóa vật thể tiêu biểu nhất của người Tây Nguyên đó chính là ngôi nhà Rông. Đây là giá trị văn hóa quý giá vừa tiện lợi cho sinh hoạt vừa có giá trị thẩm mỹ ca. Đây là nơi diễn ra các nghi lễ cộng đồng, các nghi lễ truyền thống của người dân Tây Nguyên. Do đó, cần tập trung lưu giữ, bảo tồn giá trị này trong khả năng cho phép.

VD: Người Êđê, khi xây dựng nhà Rông, dù có sử dụng nguyên liệu công nghiệp hiện đại đi chăng nữa thì cũng phải giữ được 2 k gian ( gah và ôk ) như ngôi nhà dài truyền thống.

õ Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể :

* Ngôn ngữ:

Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên, là phương tiện quan trọng nhất trong văn hóa phi vật thể của mỗi dân tộc. Là phương tiện tư duy, đồng thời cũng là phương tiện thể hiện cảm xúc, thẩm mĩ của con người. Việc giữ gìn kho từ vựng các tộc người Tây Nguyên có giá trị to lớn trong việc bảo tồn sắc thái văn hóa của họ. Muốn duy trì bản sắc văn hóa của các tộc người Tây Nguyên, trước tiên cần bảo tồn ngôn ngữ của họ.

VD : Dạy tiếng mẹ đẻ trong lớp học của các dân tộc Tây Nguyên một cách bài bản. Các thí dụ minh họa cần lấy các câu thành ngữ, tục ngữ, dân ca của dân tộc để các em bước đầu cảm nhận được tư tưởng, tình cảm của dân tộc mh, để từ đó yêu tiếng mẹ đẻ của mình hơn, thiết tha, trân trọng hơn đối với di sản văn hóa này.

* Tôn giáo, tín ngưỡng :

Các cư dân bản địa Tây Nguyên theo tín ngưỡng đa thần. Tuy nhiên, ngày nay các loại tôn giáo khác như thiên chúa giáo,phật giáo...đang ngày càng phát triển trong cộng đồng. Do đó, chúng ta phải lưu giữ niềm tin với tín ngưỡng đa thần trong tâm thức của người dân TN.

VD : Chú trọng xây dựng làng văn hóa theo các tiêu chí mới. Cần sử dụng một số hình ảnh về các vị thần sáng tạo nên quê hương, các nhân vật huyền thoại trong sử thi của người TN làm biểu tượng dân tộc. như vậy, người TN dù theo tôn giáo nào vẫn nhớ về cội nguồn của dân tộc họ.

* Sử thi :

Sử thi TN có giá trị về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. Bảo tồn và phát huy các giá trị tiêu biểu của sử thi trong xã hội hiện đại sẽ có rất nhiều lợi ích cho việc phát triển bền vững của 1 tộc người. Ta có thể bảo tồn bằng cách :

- Tuyên truyền, phổ cập các giá trị sử thi trong các thế hệ trẻ em.

- Duy trì ý niệm về cội nguồi dân tộc trong các thế hệ người TN bản địa rằng " khở nguyên" của dân tộc họ là do sáng tạo đầu tiên của các nhân vật huyền thoại sử thi và các thần linh bản địa.

- giáo dục lý tưởng vì cộng đồng trong các thế hệ người TN.

- Trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cộng đồng, tính ràng buộc, trách nhiệm và bổn phận của các thành viên đối với gia đình, dòng họ, buôn làng.

VD: Đưa sử thi TN vào các tiết học để giáo dục cho các thế hệ trẻ em về những giá trị to lớn của sử thi.

* Cồng chiêng và nghi lễ, lễ hội :

Không gian văn hóa cồng chiêng TN được Unessco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, Nó có giá trị quan trọng đối với đời sống của các dân tộc nơi đây. Do đó, việc bảo tồn cồng chiêng và nghi lễ, lễ hội là mang tính tất yếu

- Cần lĩnh hội linh hồn của lễ hội và hướng tinh thần cơ bản đó vào đời sống cộng đồng hơn là giúp kinh phí để tạo dựng lễ hội một cách hình thức, phong trào.

- Gìn giữ các lễ hội truyền thống , đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vật chất,kỹ thuật.

VD : Duy trì sinh hoạt cồng chiêng và các nghi lễ,lễ hội bằng cách tạo ra các sân khấu biểu diễn,mở rộng không gian diễn tấu của loại hình nghệ thuật đặc biệt này.

* Luật tục :

Luật tục có vai trò giữu ổn định xã hội , dòng họ, gia đình nhắc nhở con người có cách ứng xử cân đối,hài hòa đối với môi trường. Đó là những yếu tố rất cần được bảo tồn nhằm giúp người TN k bị tha hóa vì tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường.

VD: Tạo điều kiện tổ chức các buổi sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc TN để nhằm phổ biến và giáo dục về các luật tục của dân tộc mình.

* Ngoài ra, cần có các biện pháp giáo dục với các dân tộc khác di cư đến cư trú tại TN nhằm góp phần vào việc bảo tồn văn hóa của các dân tộc TN.

Câu 7 :Trình bày đặc điểm văn hóa cơ bản của văn hóa Tày và Nùng.

  * Văn hóa dân gian

Đây là một yếu tố đặc trưng trong nền văn hóa của các dân tộc thiểu số ở VN, nó làm nên màu sắc riêng của mỗi vùng bao gồm nhiều yếu tố : trang phục, phog tục tập quán, tín ngưỡng...

Giống

Do có cùng chung nguồn gốc phát triển nên người Tày và người Nùng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Họ có nền văn hóa cũng như trang phục khá giống nhau :

  • Đều sử dụng hệ ngôn ngữ Tày - Thái với chữ viết chính là tiếng Hán và tiếng Nôm.
  • Trang phục của người Tày và người Nùng thường dùng màu sắc chủ đạo là màu chàm. Chít khăn trên đầu và sử dụng các loại trang sức bằng bạc.
  • Nhà của người Tày - Nùng là nhà sàn có những đặc trưng riêng không giống các cư dân khác trong cùng nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Bộ khung nhà Tày-Nùng cũng được hình thành trên cơ sở các kiểu vì kèo. Đây là truyền thống, mái lợp ngói, tranh hay lá cọ; thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
  • Mặt bằng sinh hoạt của nhà Tày-Nùng trên cơ bản là giống nhau, mặt sàn chia làm hai phần: một dành cho sinh hoạt của nữ, một dành cho sinh hoạt của nam. Các phòng và nơi ngủ của mọi thành viên trong nhà đều giáp vách tiền và hậu.

 Khác

Người Tày Người Nùng
Địa bàn cư trú Tập trung ở các tính như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Truyên Quang, Yên Bái,... Tập trung phần lớn ở các tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Đắk Lắk, Lào Cai,..
Ăn uống Người Tày sống dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Thức ăn chủ yếu của họ là gạo nếp.  Người Tày ăn uống khá đơn giản món ăn của họ thường là những sản vật của núi rừng, Nguồn sống chính của người Nùng là lúa và ngô,,thường ăn các món xào mỡ lợn. trong các dịp lễ tết người N thường làm nhiều loại bánh từ gạo và tục uống rượu bằng thìa.

 

Hôn nhân và gia đình Theo phong tục truyền thống, hầu hết người Tày kết hôn trong cùng dòng họ.

 

Việc dựng vợ, gả chồng do bố mẹ quyết định trên cơ sở môn đăng hộ đối giữa hai gia đình sự ưng thuận của con cái và lá số của đôi nam nữ...

 

Trang phục Trang phục cổ truyền của người Tày được làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm, hầu như không có hoa văn trang trí. Nữ có áo cánh ngắn may cổ cao, năm thân, quần dài, thắt lưng, khăn. Trang phục của nam giới có quần chân què, a, áo ngắn cũng may năm thân, cổ đứng. Nam cũng có áo dài như cái áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối.

 

Phụ nữ mặc áo năm thân và cài một hàng cúc bằng nút vải phía bên nách phải. ở đoạn cổ tay và lá sen bao giờ cũng đắp một miếng vải và bốn túi áo không có nắp. Nam, nữ đều mặc một loại quần nhuộm màu chàm, cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân.
Nghề thủ công Nghề làm gạch, ngói, nung vôi có ở nhiều nơi. Nghề kéo dầu thực vật để ăn và thắp cũng khá phổ biến. Nghề chưng cất dầu hồi, dệt thổ cẩm, nuôi tằm, nghề rèn cũng rất phát triển. Các ngành nghề thủ công phát triển nhất, phổ biến nhất là nghề dệt, tiếp đến là nghề mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm.
Tang ma Đám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa người khác về bên kia thế giới. Hằng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

 

Người Nùng rất coi trọng hoạt động này có rất nhiều nghi lễ đưa hồn người chết về thế giới bên kia
Lễ hội Có nhiều lễ hội đặc sắc và độc đáo mang đậm màu sắc dân tộc như lễ hội Lồng Tồng,lễ hội nàng Hai. Người N có tục lệ ăn tết giống người Viêt. Các lễ hội tiêu biểu là lễ  hội Lồng Tồng.

 

Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên là chủ yếu.Đây là tín ngưỡng rất được người Tày xem trọng, việc thờ cúng tổ tiên nhằm giáo dục, nhắc nhở con cháu luôn hướng về nguồn gốc Bàn thờ được đặt ở vị trí trang trọng nhất và được trang hoàng đẹp Thờ cúng tổ tiên là chính, ngoài ra còn có thờ thổ công, ma cửa, ma sàn...hằng năm, người Nùng thường xuyên tổ chức các nghi lễ thờ cúng cầu mong mùa màng bội thu, tránh thiên tai, dịch bệnh.

 

Đời sống văn hóa Người Tày có 1 loại nhạc cụ đặc trưng đó là đàn Tính. Người Tày có đời sống văn hóa khá phong phú với các làn điệu then, lượn hay sli Người Nùng có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú, có nhiều làng điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc như sli, then với các hình thức biểu diễn độc đáo.

 

Câu 8 :Trình bày những xu hướng biến đổi của văn hóa vùng Tây Bắc. Theo a c thay đổi đó có hợp lý k ? Vd?

       õ Khái quát vùng Tây Bắc :

- Địa lý : địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam.

- Hành chính : Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu,Lào Cai, Yên Bái.

- Tộc người : có khoảng trên 20 tộc người, đông nhất là người Thái và người H'Mông.

- Văn hóa : Nhà sàn và xòe Thái, mo Mường.

- Quân sự : có vị trí chiến lược trong an ninh, quốc phòng: trận Điện Biên Phue và trận Nà San trong chiến tranh Đông Dương.

õ Đặc điểm văn hóa vùng Tây Bắc :

Văn hóa vùng Tây Bắc mang đậm yếu tố văn hóa sinh thái tộc người:

- Văn hóa các dân tộc người cư trú tại vùng thung lũng lòng chảo thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái và Việt- Mường như Thái, Mường, Tày, Nùng.

- Văn hóa các dân tộc người cư trú ở các sườn núi thuộc rẻo giữa nói ngôn ngữ Môn-Khmer như là: Khơ mú. Kháng, Mảng.

- Văn hóa các dân tộc cư trú tại các dãy núi cao thuộc nhóm ngôn ngữ H'Mông-Dao và Tạng-Miên như : H'Mông, Dao, Hà Nhì, Si La.

õ Những xu hướng biến đổi của văn hóa vùng Tây Bắc :

- Xu hướng biến đổi hoặc loại bỏ dần các yếu tố cổ truyền ( trong trang phục, nhà cửa , ngôn ngữ, dân ca, lễ hội ).

VD: Sự loại bỏ các yếu tố cổ truyền được thể hiện rõ nhất trong nhà ở của các dân tộc vùng Tây Bắc. Từ ở nhà sàn, người ta đã dần chuyển sang ở nhà đất được xây dựng bằng các vật liệu công nghiệp như xi măng, thép...

- Xu hướng giao lưu, tiếp biến văn hóa cổ truyền với các yếu tố văn hóa mới ,sự xuất hiện những sáng kiến mới trong quản lý bản làng, dòng họ, tái cấu trúc lễ hội.

VD : Trong lễ cưới của các dân tộc thiểu số,bên cạnh việc mặc các bộ trang phục truyền thống người ta còn mặc những bộ váy, đầm mang xu hướng của những đám cưới ở phương Tây.

- Xu hướng bảo tồn trên cơ sở điều chỉnh lại các yếu tố cổ truyền .

VD : các nghi lễ đời người đã có sự thay đổi một số tiểu tiết hoặc giản lược những yếu tố k cần thiết hoặc k phù hợp để phù hợp với cuộc sống hiện đại đặc biệt trong các nghi lễ sinh đẻ, cưới xin, tang ma, nghi lễ cộng đồng .

- Xu hướng xuất hiện các yếu tố mới.

VD: Sự xuất hiện của các hoạt động du lịch. Các yếu tố văn hóa đã được sử dụng đểphục vụ nhu cầu của khách du lịch.

Câu 9 :So sánh văn hóa tộc người ở vùng cao và vùng thấp ở Tây Bắc Việt Nam

       õ Khái quát vùng Tây Bắc :

- Địa lý : địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam.

- Hành chính : Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu,Lào Cai, Yên Bái.

- Tộc người : có khoảng trên 20 tộc người, đông nhất là người Thái và người H'Mông.

- Văn hóa : Nhà sàn và xòe Thái, mo Mường.

- Quân sự : có vị trí chiến lược trong an ninh, quốc phòng: trận Điện Biên Phue và trận Nà San trong chiến tranh Đông Dương.

õ Đặc điểm văn hóa vùng Tây Bắc :

Văn hóa vùng Tây Bắc mang đậm yếu tố văn hóa sinh thái tộc người:

- Văn hóa các dân tộc người cư trú tại vùng thung lũng lòng chảo thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái và Việt- Mường như Thái, Mường, Tày, Nùng.

- Văn hóa các dân tộc người cư trú ở các sườn núi thuộc rẻo giữa nói ngôn ngữ Môn-Khmer như là: Khơ mú. Kháng, Mảng.

- Văn hóa các dân tộc cư trú tại các dãy núi cao thuộc nhóm ngôn ngữ H'Mông-Dao và Tạng-Miên như : H'Mông, Dao, Hà Nhì, Si La.

       Văn hóa sinh thái tộc người Tây Bắc qua so sánh cư dân vùng thấp với cư dân vũng cao

Văn hóa Thái ở vùng thấp Văn hóa H'Mông-Dao và các dân tộc vùng cao
VH vật chất - Nhà sàn.

- ăn cơm nếp, cá

- Trang phục đơn giản, màu trầm.

-Nhà đất.

-Ăn ngô, thực phẩm săn bắt, hái lượm.

- Trang phục sặc sỡ, đa dạng.

VH xã hội - Quan hệ vợ chồng bình đẳng.

-Quan hệ dòng họ sâu đậm.

-Tính cộng đồng trong bản làng cao.

- Quan hệ vợ chồng bình đẳng.

-Quan hệ dòng họ sâu đậm.

-Tính cộng đồng trong bản làng cao.

VH tinh thần - Ngôn ngữ Thái- Mường

-VHDG phong phú về thể loại, dặc sắc và trữ tình về nội dung.

-NTDG:thổ cẩm Thái,Mường.

Xòe Thái và cồng chiênMường.

-TNDG: Bản địa và du nhập.

-Hôn nhân con cái tự do tìm hiểu nhưng do cha mẹ quyết định

-Tang lễ theo nghi thức cổ truyền

-Đa dạng,phong phú về ngôn ngữ

-Phong phú về thể loại truyện cổ dân gian và hát dân ca.

-NT: trang trí thổ cẩm của người Dao, H'Mông (in sáp ong) Xà Phó, Hà Nhì, các loại nhạc cụ phong phú.

- TNDG: bản địa.

- Hôn nhân do con cái quyết định

- Tang lễ theo nghi thức cổ truyền.

-Có kiến thức và cách tính lịch tiết riêng.

Nhà cửa

- Nhà cửa của các dân tộc dù ở vùng thấp hay vùng cao đều là sự thể hiện cách ứng xử khôn khéo, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của từng tộc người. Đây vừa là sản phẩm vật chất vừa là không gian văn hóa- xã hội của từng tộc người.

Nhà sàn dân tộc Thái Nhà đất- Dân tộc Dao
Gồm 2 loại :

-Loại mái mui rùa - Thái đen.

-Loại 4 mái phẳng - Thái Trắng

- Nhà 3 gian với 1 cửa chính

Đặc trưng về ẩm thực:

- Với đặc trưng của 1 nền kinh tế nông nghiêp tự cấp, tự túc, cộng với môi trường tự nhiên có sông suối dày đặc nên bữa ăn của các cư dân vùng thấp tiêu biểu là người Thái mang đậm nét của các cư dân nông nghiệp lúa nước ở ĐNA với nét điển hình là " cơm cày ruộng, cá kiếm ăn ".

- Các cư dân vùng cao thì thức ăn lại chủ yếu dựa vào săn bắt, đánh bắt các con vật có sẵn trong rừng, điều đó đã góp phần làm nên nét riêng trong ăn uống của 2 khu vực cư dân ở đây.



Cùng Thảo Luận Nhé!