Đề Cương Ôn Tập Môn KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN Có Đáp Án chương trình Đại Học hiện hành. Tự học Online xin giới thiệu đến quý thầy cô và các bạn tham khảo Đề Cương Ôn Tập Môn KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN.

Nội dung Tài Liệu

ĐỀ CƯƠNG Ôn Tập Môn KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN Có Đáp Án

 

Tải Xuống  

CHƯƠNG I :

Câu 1 : Kinh doanh bất động sản là gì? Những hoạt động nào được coi là hoạt động kinh doanh bất động sản và giao dịch nào được gọi là giao dịch liên quan đến kinh doanh bất động sản?

· Kinh doanh bất động sản là:
- Theo luật kinh doanh bất động sản:
+ Hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động
sản.
+ Kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất
động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi.
+ Kinh doanh dịch vụ bất động sản là các hoạt động hỗ trợ kinh doanh bất động sản và thị trường bất
động sản, bao gồm các dịch vụ môi giới bất đống sản, định giá bất đống sản, sàn giao dịch bất động sản,
tư vấn bất động sản, đấu giá bất động sản, quảng cáo bất động sản, quản lý bất động sản.
+ Giao dịch bất động sản có liên quan đến kinh doanh bất động sản là việc mua bán, chuyển nhượng,
thuê, thuê mua bất động sản giữa tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản với tổ chức, cá nhân
kinh doanh bất động sản.
· Những hoạt động nào được coi là hoạt động kinh doanh bất động sản và giao dịch nào
được gọi là giao dịch liên quan đến kinh doanh bất động sản?
Hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm KD BĐS và kinh doanh dịch vụ BĐS
- Các loại nhà, công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng
- quyền sử dụng đất được tham gia thị trường bất động sản theo quy định của pháp luật đất
đai
- các loại bất động sản khác theo quy định của pháp luật
- căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thị trường bds lộ trình hội nhập kinh tế
quốc tế, chính phủ quy định cụ thể các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh
· giao dịch gọi là giao dịch liên quan đến KD BĐS gồm:
1. Mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
2. mua bán nhà ở không có quyền sử dụng đất ở
3. chuyển nhượng quyền sử dụng đất
4. cho thuê nhà ở
5. giao dịch thế chấp nhà ở
6. giao dịch thuê mua nhà ở
7. giao dịch chuyển đổi quyền sở hữu nhà ở
8. môi giới bất động sản;
9. định giá bất động sản;
10. tư vấn bất động sản;
11. đấu giá bất động sản;
12. quảng cáo bất động sản;
13. quản lý bất động sản.

Câu 2 : Phân tích ảnh hưởng của các đặc điểm của kinh doanh bất động sản đến hoạt động đầu tư kinh doanh nhà ở. Liên hệ với thực tiễn và rút ra ý nghĩa.


· Phân tích ảnh hưởng của các đặc điểm kinh doanh bất động sản đến hoạt động đầu tư

kinh doanh nhà ở
- Đặc điểm 1: Kinh doanh BĐS là hoạt động mang tính cục bộ và khu vực
Vì bất động sản là nhà ở có vị trí cố định: Vị trí của BĐS là nhà ở rất khác nhau, vì vậy nó mang lại thu
nhập cho chủ sở hữu và nhà kinh doanh nhà ở những lợi ích khác nhau.Biểu hiện:
+ Mọi hoạt động kinh doanh nhà ở phải gắn liền với vị trí của nhà ở. Môi trường xung quanh nhà ở có
vai trò quan trọng đối với giá trị của nhà ở. Ví dụ như nhà ở cùng khu vực bờ hồ Hoàn Kiếm có cùng
diện tích và kiến trúc nhưng nhà ở mặt ngoài Bò Hồ sẽ có giá trị cao hơn so với nhà ở trong ngõ cùng
khu vực bờ hồ. Hoặc là các nhà ở ở khu vực đô thị mới với cùng diện tích là 72m2 thì nhà ở có 3 mặt
tiền sẽ đắt hơn nhà 2 mặt tiền và đắt hơn nhà 1 mặt tiền, tương tự như vậy nhà ở 2 mặt tiền mà có một
mặt hướng ra khu vườn hoa hay khu công viên thì sẽ đắt hơn nhà 2 mặt tiền bt hoặc là nhà 2 mặt tiền
đường lớn sẽ đắt hơn nhà 2 mặt tiền đường nhỏ….
+ Những hoạt động kinh doanh ở những địa bàn, khu vực khác nhau cũng khác nhau, không thể áp
dụng mô hình kinh doanh của nơi này cho nơi khác. Ví dụ giá nhà ở của thành phố thì khác với nông
thôn, của khu vực trung tâm thành phố HN khác với khu vực ngoại thành…
+ Các hoạt động kinh doanh ảo chỉ thực hiện được một công đoạn trong công trình kinh doanh chứ
không thể là một hoạt động kinh doanh hoàn chỉnh. tức là nó chỉ phản ánh một phần nào đó việc kinh
doanh BĐS chứ không phải là hoàn toàn vì vậy có nhiều trường hợp xuất hiện các trung tâm môi giới
ma, giới thiệu khác với sản phẩm thực tế.
Ý nghĩa:
- không thể dập khuôn máy móc cho các hoạt động kinh doanh ở những khu vực, địa bàn và vị trí khác
nhau.
- Người kinh doanh phải có khả năng nhận biết, phân tích đánh giá được sự giống và khác biệt trong
KD BĐS nói chung và kinh doanh nhà ở nói riêng giữa các vùng và các khu vực khác nhau.
- Hoạt động KD BĐS phải đầy đủ gồm nhiều quá trình: Từ xuất hiện ý tưởng, tổ chức đầu tư, tổ chức
sản xuất, tổ chức quản lý, tổ chức tiêu thụ, hoạt động sau bán hàng…chỉ tính riêng quá trình tiêu thụ đã
bao gồm khá nhiều khâu: Từ giới thiệu, đàm phán, kiểm tra thực địa, hoàn thiện thủ tục pháp lý… và
qua đó hoạt động kinh doanh nhà ở cũng phải tuân theo đầy đủ các bước như trên nếu thiếu một trong
các bước đó thì nó có khả năng thông tin về nhà ở đó là kém trung thực.
* Đặc điểm 2: KD BĐS là hoạt động đầu tư lớn và lâu dài và kinh doanh nhà ở cũng vậy
Vì: + Vì thường mua nhà mang tính cố định và là hoạt động đầu tư dài hạn vì nhà ở có thời gian sử
dụng lâu dài: Vật lý và tuổi thọ kinh tế
+ BĐS có giá trị lớn: gắn liền với đất đai, đầu tư công trình, giá trị mang lại, bảo tồn giá trị, cung nhỏ
hơn cầu.
+ BĐS là loại hàng hoá không thể thay thế được
Vận dụng:
- Muốn kinh doanh nhà ở phải có tiềm lực về tài chính
- phải có chiến lược kinh doanh dài hạn
- đầu tư lâu dài, trải qua nhiều quá trình, nhiều công đoạn từ định hướng đầu tư, khảo sát,
đầu tư xây dựng… đến lưu thông tiêu thụ, hoàn thành thủ tục pháp lý…

- Để có thể đạt hiệu quả trong kinh doanh, phải đủ tiềm lực về mọi mặt và thương hiệu, uy

tín đóng vai trò quan trọng trên thị trường. Mặt khác phải rất quan tâm đến việc xây dựng chiến lược
kinh doanh của DN.
- Đầu tư lâu dài, trải qua nhiều quá trình, nhiều công đoạn từ định hướng đầu tư, khảo sát,
đầu tư xây dựng… đến lưu thông tiêu thụ, hoàn thành thủ tục pháp lý…
Để có thể đạt hiệu quả trong kinh doanh, phải đủ tiềm lực về mọi mặt và thương hiệu, uy tín đóng vai
trò quan trọng trên thị trường. Mặt khác phải rất quan tâm đến việc xây dựng chiến lược kinh doanh của
DN.
Đặc điểm 3: Kinh doanh BĐS là hoạt động nhạy cảm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của pháp luật và chính
sách. Đặc biệt là kinh doanh nhà ở ở Việt Nam, do hệ thống pháp luật còn chưa thực sự được chặt chẽ
vì tính tính minh bạch trong BĐS là yếu tố vô cùng quan trọng, hơn nữa Việt Nam là một nước Á Đông
nên về tín ngưỡng tâm linh về hình dáng kiến trúc nhà và hướng nhà rất quan trọng đối với từng người
và đặc tính tuổi mỗi người.
Vì: + Nhà nước quản lý toàn bộ BĐS, trước hết là đất đai rồi đến các công trình xây dựng, tài sản trên
đất thông qua các luật: Luật đất đai, luật xây dựng, luật KD BĐS…
+ Quan hệ cung cầu BĐS khá nhạy cảm, nhìn chung cung nhỏ hơn cầu, do đó nhà nước cần phải điều
tiết thông qua hệ thống pháp luật và chính sách
- Vận dụng:+ Muốn kinh doanh phải am hiểu luật pháp và các chính sách của nhà nước
trong từng thời kì, từng khu vực: các loại Luật liên quan các quy định liên quan đến quyền, KDBĐS các
chính sách về quy hoạch và đầu tư…
- hoạt động kinh doanh bắt buộc phải trải qua các quy trình pháp lý. Quy trình này vừa
mang tính bắt buộc, vừa là sự cần thiết khách quan.
- Nhà kinh doanh phải biết cách phân tích chính sách để tìm kiếm cách thức phương hướng
kinh doanh, tìm hàng lang giới hạn, dự báo xu hướng biến động thị trường ảnh hưởng đến kinh doanh.
Đặc điểm 4: HĐộng KD BĐS vừa là hoạt động đa ngành, vừa là hoạt động kinh doanh đặc thù
- tính đặc thù thể hiện:
+ là thị trường không hoàn hảo, cung phản ứng chậm hơn cầu
+ Thiếu thông tin thị trường, khó so sánh được.
+ một số loại hàng hoá bất động sản mang tính độc quyền, gắn với vị trí cảnh quan môi trường.
+ Cầu phức tạp, chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố cả tâm linh, tập quán thói quen…
- tính đa ngành thể hiện:
+ khâu sản xuất: những vấn đề kinh tế đất đai: định giá, khả năng sinh lợi.. Những vấn đề kỹ thuật đất
đai: thổ nhưỡng, nông hoá, tầng địa chất… Những vấn đề đầu tư xây dựng các công trình trên đất: kỹ
thuật: ý tưởng, kiến trúc, mỹ thuật, Kinh tế: vốn đầu tư, chi phí xây dựng, giá thành, lợi nhuận…
+ khâu lưu thông: Marketing, bán, cho thuê, môi giới, thế chấp, bảo hiểm, tư vấn, sau bán hàng, pháp
lý…
+ khâu đầu tư và khai thác BĐS: quá trình đầu tư, nguồn vốn sử dụng, những vấn đề tài chính bất động
sản, quản lý bất động sản…
- Yêu cầu vận dụng:
+ nhà kinh doanh phải có sự am hiểu, có kiến thức rộng, có kinh nghiệm trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, kĩ
thuật, xã hội, chính trị…
+ phải có những kiến thức đặc thù của ngành, từ đó mới có thể đưa ra những quyết định chính xác và có
hiệu quả.

CÂU 3. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA KD BĐS ĐẾN HĐ ĐT KD VĂN
PHÒNG CHO THUÊ. LIÊN HỆ, RÚT KINH NGHIỆM
Đăc điểm: KD BĐS là hoạt động nhạy cảm, chịu ảnh hưởng mạnh của pháp luật va chính sách
Bất động sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn

và có ảnh hưởng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Khi bất động sản trở thành hàng hoá, thị trường
bất động sản được hình thành. Thị trường bất động sản là sự mua bán, trao đổi bất động sản, là thị
trường của các hoạt động giao dịch như chuyển nhượng, mua, bán, cho thuê, thế chấp... bất động sản
trong phạm vi không gian và thời gian nhất địnhNhà nươc quản lý toàn bộ BĐS thông wa luật đất đai,
luật xây dựng, luật KD BĐS...Nhà đầu tư muốn kinh doanh văn phòng cho thuê phải am hiểu luật pháp
và các chính sách của nha nước trong từng thời kì, từng khu vực..từ đó tìm ra cách thưc, phương hướng
kinh doanh, dự báo xu hướng biến động của thị trường.
Ví dụ:
Từ nay đến năm 2012, tỷ lệ xây dựng văn phòng cao tầng hơn sẽ được tập trung xây dựng tại quận,
huyện khu vực phía Tây, nơi cho phép xây dựng các tòa nhà cao hơn so với tòa nhà chỉ được phép xây
8 - 10 tầng ở quận Hoàn Kiếm. Theo đó, cùng với công trình tòa tháp Keangnam cao 65 tầng trên
đường Phạm Hùng, năm 2011 dự báo có khoảng 91.000 m2 văn phòng hạng A được đưa vào thị
trường.
Đặc điểm: KD BĐS là hoạt độg mang tính cục bộ và khu vực
BĐS có vị trí cố định, vị trí BĐS khác nhau sẽ mang lại cho nhà kinh doanh những giá trị khac nhau.

Mọi hđ kinh doanh phải gán liền với vị trí của BĐS. Môi trường xq có vai trò vô cùng quan trọng đối
với giá trị của BĐS. Chúng ta không thể áp đạt mô hình kinh doanh ở nơi nay cho nơi khác.Trong đầu
tư KD văn phòng cho thuê, ta không thể dập khuôn một cách máy móc cho hđ ở các vùng khác nhau.
Ví dụ: tại các trung tâm thành phố ta có thể đầu tư kinh doanh van phòng cho thuê nhưng ta không thể
mang nó về nông thôn để đầu tư được. Nhà kinh doanh phai có khả năng nhận biết và phân tích được sự
tương đồng và khác biệt trong KD giữa các khu vực.
Các văn phòng cho thuê thường được xây dựng tại những nơi giao thông thuân lợi, kinh tế phát triển,
diễn ra nhiều giao dịch…ví dụ: ba tòa nhà văn phòng vừa ra mắt thị trường trong năm nay là Plaschem
(quận Long Biên), Tháp CEO (huyện Từ Liêm) và Tòa tháp Handiresco (quận Ba Đình)
Đặc điểm: KD BĐS là hoạt động đầu tư lớn và lâu dài
.BĐS là hàng hoá lâu bền, có giá trị lớn, k thể thay thế được. Các nhà đầu tư muốn kinh doanh VPCT

thì phải có tiềm lực tài chính : chi phí xây dựng các toà nhà văn phòng cho thuê lớn và thu hồi vốn cũng
khá dài . Điều này còn chưa tính dến yếu tố rủi ro khi các văn phòng này được xây dựng việc lên nhưng
k có người thuê.ví dụ: giá thuê văn phòng TP HCM đã giảm rất mạnh từ thời điểm đỉnh của giai đoạn
đầu năm ngoái, khoảng 70 USD một m2 xuống khoảng 45 USD năm nay và có thể còn xuống thấp hơn
nữa, khoảng 30 USD. Giá thuê cho các văn phòng hạng B cũng đã giảm gần 50%, từ mức 45 USD
xuống còn khoảng 28 USD một m2. Văn phòng hạng thấp hơn từ dưới 40 USD xuống còn chỉ 15 đến
25 USD. Đầu tư văn phòng thời điểm này không phải là sự lựa chọn thông minh. Thị trường đầu tư văn
phòng cho thuê hiện rất u ám và thời điểm phục hồi khó dự báo, có thể cần rất nhiều thời gian. Nếu DN
k co tai chính mạnh thì sẽ k thể trụ được.

Bên cạnh đó, các dn cần có chiến lược kinh doanh dài hạn. Qúa trình đầu tư phải trải wa nhiều công

đoạn: vấn đề wản lý vốn, phân bổ chi phí, phân tích kinh doanh phức tạp đòi hỏi nhà kinh doanh VPCT
phải có tri thức.
Đặc điểm: là hđ kd đa ngành vừa là hoạt động KD đặc thù
Thị trường BĐS là thịt trường không hoàn hảo, cung phản ứng chậm, thiếu thông tin, khó so sánh, hàng

hoá mang tinh độc quyền. Hoạt động KD BĐS la hoạt động đa ngành, nó liên wan đến nhiều khâu từ
sản xuất dến đầu tư xd BĐS ,lưu thông, khai thác…Nhà đầu tư nói chung va nhà đtư CPCT nói riêng
phải có kiến thức sâu rộng: kinh tế, tài chính, kĩ thuật, ngoại giao…
sôi sục ở nhiều nơi, thì tình hình cho thuê văn phòng lại khá ảm đạm. Kinh tế suy giảm, doanh trong khi
thị trường nhà đất đang nghiệp hạn chế mở rộng trụ sở, trong khi nguồn cung liên tục tăng, đã khiến giá
thuê văn phòng giảm mạnh.
THỰC TIỄN VN
tình hình cho thuê văn phòng lại khá ảm đạm. Kinh tế suy giảm, doanh trong khi thị trường nhà đất

đang nghiệp hạn chế mở rộng trụ sở, trong khi nguồn cung liên tục tăng, đã khiến giá thuê văn phòng
giảm mạnh. Theo thông tin mới nhất, giá văn phòng cho thuê tại TP.HCM giảm từ 30-50% trong thời
gian qua. Ngay tại Hà Nội, nơi được coi là có “truyền thống” giữ giá, thì giá thuê văn phòng cũng đã
giảm từ 10-20%.Bởi, những doanh nghiệp lớn trong nước, phần lớn đã có sẵn trụ sở. Họ cũng không
sẵn sàng thuê thêm văn phòng trong thời điểm này. Còn các công ty nhỏ và vừa thì thuê căn hộ hoặc
biệt thự làm văn phòng để tiết kiệm chi phí.
Trong tình trạng khó khăn hiện nay, để lôi kéo và giữ chân được khách hàng của mình, nhiều chủ đầu
tư cao ốc văn phòng bắt buộc phải giảm giá cho thuê.
Theo thống kê của Công ty tư vấn BĐS Savills Việt Nam, đến cuối 2009, Hà Nội sẽ có thêm gần
200.000m2 văn phòng, chủ yếu hạng B và C. Trong vài năm tới, nguồn cung này có thể lên đến 1 triệu
m2.
Công ty Tư vấn bất động sản CB Richard Ellis Việt Nam mới đây cũng dự báo, trong năm nay, thị
trường văn phòng cho thuê sẽ dư thừa rất nhiều.
Tuy nhiên, trong vòng 3 tuần trở lại đây, phân khúc văn phòng cho thuê có dấu hiệu đảo chiều, một số
nơi sôi động trở lại, đặc biệt là văn phòng hạng C hoặc khu xa trung tâm.
CÂU 4. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA KD BĐS ĐẾN HĐ ĐT KDTHƯƠNG
M ẠI DỊCH VỤ. LIÊN HỆ, RÚT KINH NGHIỆM
Đăc điểm: KD BĐS là hoạt động nhạy cảm, chịu ảnh hưởng mạnh của pháp luật va chính sách
Bất động sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn

và có ảnh hưởng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Khi bất động sản trở thành hàng hoá, thị trường
bất động sản được hình thành. Thị trường bất động sản là sự mua bán, trao đổi bất động sản, là thị
trường của các hoạt động giao dịch như chuyển nhượng, mua, bán, cho thuê, thế chấp... bất động sản
trong phạm vi không gian và thời gian nhất định Nhà nươc quản lý toàn bộ BĐS thông wa luật đất đai,
luật xây dựng, luật KD BĐS...Nhà đầu tư muốn kinh doanh B ĐS thương mại dịch vụ phải am hiểu luật
pháp và các chính sách của nha nước trong từng thời kì, từng khu vực..từ đó tìm ra cách thưc, phương
hướng kinh doanh, dự báo xu hướng biến động của thị trường. v í d ụ:


Nhà nước có quyết định cho phép các quan, huyện khu phía tây đươc phép xây dựng các toà nhà cao

trên 10 tầng, t ừ nay đến năm 2012, tỷ lệ xây dựng văn phòng cao tầng hơn sẽ được x ây d ựng tại đây.
Còn ở khu vực nội thành các khu trung tam đều không được xây vượt was 8-10 tầng.
Đặc điểm: KD BĐS là hoạt độg mang tính cục bộ và khu vực
BĐS có vị trí cố định, vị trí BĐS khác nhau sẽ mang lại cho nhà kinh doanh những giá trị khac nhau.

Mọi hđ kinh doanh phải gán liền với vị trí của BĐS. Môi trường xq có vai trò vô cùng quan trọng đối
với giá trị của BĐS. Gía thuê m ặt bằng kinh doanh ở VINCOM không thể giống với giá thuê ở 1 khu
khác. Chúng ta không thể áp đạt mô hình kinh doanh ở nơi nay cho nơi khác.Trong đầu tư KD B ĐS
TMDV ta không thể dập khuôn một cách máy móc cho hđ ở các vùng khác nhau. Ví dụ: tại các trung
tâm thành phố ta có thể đầu tư kinh doanh BĐSTMDV nhưng ta không thể mang nó về nông thôn để
đầu tư được. Nhà kinh doanh phai có khả năng nhận biết và phân tích được sự tương đồng và khác biệt
trong KD giữa các khu vực.Việc đầu tư kinh doanh BĐS TM ở HN không thể giống với các tỉnh
khác.HN là trung tâm kinh tế của miền bắc, mọi hoạt động thương mại diễn ra rất mạnh mẽ ở đây.
Các TTTM thường tập trung tại những nơi giao thông thuân lợi, kinh tế phát triển, ng ười dân có đời
sông cao.
Đặc điểm: KD BĐS là hoạt động đầu tư lớn và lâu dài
BĐS là hàng hoá lâu bền, có giá trị lớn, k thể thay thế được. Các nhà đầu tư muốn kinh doanh BĐS

TMDV thì phải có tiềm lực tài chính : chi phí xây dựng các toà nhà TTTM cho thuê lớn và thu hồi vốn
cũng khá dài . Điều này còn chưa tính dến yếu tố rủi ro khi các văn phòng này được xây dựng việc lên
nhưng k có người thuê. Tr ư ớc kia ngu ồn v ốn ch ủ y ếu l à vay của NHTM nhưng nay con thêm
nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Bên cạnh đó, các dn cần có chiến lược kinh doanh dài hạn,
thu hút sự wan tâm của các nhà đầu tư đến BĐS TM.Qúa trình đầu tư phải trải wa nhiều công đoạn: vấn
đề wản lý vốn, phân bổ chi phí, phân tích kinh doanh phức tạp đòi hỏi nhà kinh doanh VPCT phải có tri
thức.
Đặc điểm: là hđ kd đa ngành vừa là hoạt động KD đặc thù
Thị trường BĐS là thịt trường không hoàn hảo, cung phản ứng chậm, thiếu thông tin, khó so sánh, hàng

hoá mang tinh độc quyền. Hoạt động KD BĐS la hoạt động đa ngành, nó liên wan đến nhiều khâu từ
sản xuất dến đầu tư xd BĐS ,lưu thông, khai thác…Nhà đầu tư nói chung va nhà đtư B ĐSTMDV nói
riêng phải có kiến thức sâu rộng: kinh tế, tài chính, kĩ thuật, ngoại giao…Nh à đ ầu t ư cần phải có kiến
thức đặc thù của ngành từ đó đưa ra những quyết định chính xác va hiệu wả.
THỰC TIỄN VN
Trong khi các dự án căn hộ, đất nền dự án đang giảm giá, hoặc giãn tiến độ thì nhiều dự án bất động sản

thương mại vẫn mạnh dạn triển khai. khó khăn của các công ty bất động sản hiện nay là giá vật liệu xây
dựng tăng rất mạnh. Tuy nhiên, giá đất đang giảm nhiệt do thị trường rơi vào tình trạng ảm đạm nên
"bù qua, sớt lại cũng cân bằng được". Bà Tranh khẳng định, thị trường bất động sản đang đHàng loạt
doanh nghiệp khó khăn về vốn, tình trạng sang nhượng dự án đang diễn ra trong thị trường căn hộ cao

cấp và đất dự án. Tuy nhiên, trong bộn bề khó khăn đó, cơ hội đang đến với những chủ đầu tư trường

vốn với những dự án bất động sản thương mại. Đó cũng là điểm sáng cho thị trường ảm đạm hiện
nay.óng băng nhưng chỉ ở loại căn hộ và đất dự án. Còn mảng bất động sản thương mại thì vẫn luôn
nóng. Điều mà các nhà đầu tư cần quan tâm đến là nên đầu tư KD BĐS TMDV như thế nào cho phù
hợp với từng khu vực. sử dụng va huy động vốn cho phù hợp đồng thời co biện pháp thu hút các nhà
đầu tư vao BĐS của mình.
CÂU5. . PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA KD BĐS ĐẾN HĐ ĐT BĐS CÔNG
NGHIỆP. LIÊN HỆ, RÚT KINH NGHIỆM
Đăc điểm: KD BĐS là hoạt động nhạy cảm, chịu ảnh hưởng mạnh của pháp luật va chính sách
Bất động sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn

và có ảnh hưởng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Khi bất động sản trở thành hàng hoá, thị trường
bất động sản được hình thành. Thị trường bất động sản là sự mua bán, trao đổi bất động sản, là thị
trường của các hoạt động giao dịch như chuyển nhượng, mua, bán, cho thuê, thế chấp... bất động sản
trong phạm vi không gian và thời gian nhất địnhNhà nươc quản lý toàn bộ BĐS thông wa luật đất đai,
luật xây dựng, luật KD BĐS...Nhà đầu tư muốn kinh B ĐS CN phải am hiểu luật pháp và các chính
sách của nha nước trong từng thời kì, từng khu vực..từ đó tìm ra cách thưc, phương hướng kinh doanh,
dự báo xu hướng biến động của thị trường.
Đ ất nước ta đang trong tién trình CNH-HĐH nên vấn đề xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, khu chế
xuất đang được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Theo dự kiến, đến năm 2010, quỹ đất dành cho những
khu này sẽ tăng lên 65.000 ha và 80.000 ha vào năm 2020.
Năm 2015, dự kiến sẽ xây dựng 113 khu công nghiệp mới và cải tạo, mở rộng 27 khu cũ. Những con số
trên cho thấy việc thị trường bất động sản công nghiệp là một thị trường đầy tiềm năng. Đây cũng là thị
trường nhận được nhiều sự quan tâm của nhà nươc và các tỉnh thành. Các nhà đầu tư nhạn được nhiều
sự ưu ái như giảm thuế đất, hỗ trợ vốn…Tuy nhiên các nhà đầu tư cũng phải tuân theo 1 số quy định
như: môi trường, giải quyết việc cho người dân mất đất…
Từ nhiều ưu đãi, hoạt động ĐT BĐS CN phát triển mạnh mẽ. Nó phát triển mạnh đến mức nhà nước
kho co thể kiểm soát được, tỉ lệ lấp đầy chi đạt khoảng 50%.cung đã vượt was cầu
Đặc điểm: KD BĐS là hoạt độg mang tính cục bộ và khu vực
BĐS có vị trí cố định, vị trí BĐS khác nhau sẽ mang lại cho nhà kinh doanh những giá trị khac
nhau
. Mọi hđ kinh doanh phải gán liền với vị trí của BĐS. Môi trường xq có vai trò vô cùng quan trọng

đối với giá trị của BĐS.
Khu công nghiệp được đặt ở vị trí thuận lợi, gần cảng biển, cảng hàng không, ga xe lửa, có cơ sở hạ
tầng kỹ thuật thuận lợi như hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống lưới điện
quốc gia, hệ thống thông tin, viễn thông; điều kiện về nguồn nhân lực dồi dào; tính hấp dẫn các nhà
đầu tư về vị trí và điều kiện sinh hoạt; chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật thấp và được địa
phương, các ngành hỗ trợ tạo điều kiện ...những điểm trên phải được xem xét trên khía cạnh hiện tại và
sự duy trì khả năng ấy trong tương lai. KCN đảm bảo được nhiều điều kiện thuận lợi thì khả năng thành
công là rất cao và ngược lại nếu không đáp ứng được các yêu cầu trên thì sẽ rất khó khăn trong quá
trình hình thành, phát triển và thu hút đầu tư và hiệu quả đầu tư phát triển KCN sẽ thấp và rất dễ thất
bại.Ở những khu vực, địa bần, vị trí khác nhau, thi hoạt động KD BĐS CN cũng khac nhau. Trong 11
tỉnh và thành phố của khu vực đồng bằng sông Hồng, Hà Nội là Thủ đô và là thành phố lớn nhất còn
Hải Phòng là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc. Nằm giữa 2 thành phố này là tỉnh Hưng Yên và Hải
Dương, được nối với nhau bằng quốc lộ 5A và tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng. Đường cao tốc ô tô Hà Nội - Hải Phòng vừa được khởi công vào tháng 5/2008 hứa hẹn sẽ tạo điều kiện để phát triển các
tỉnh thuộc trục Đông - Tây này.
TỪđó ngưòi kinh doanh phải phải có khả năng nhạn biết , phân tích, đánh giá được sự tương đồng và
khác biệt trong KD BĐS CN giữa các vùng từ đó có chiến lược kinh doanh phù hợp
Đặc điểm: KD BĐS là hoạt động đầu tư lớn và lâu dài
BĐS là hàng hoá lâu bền, có giá trị lớn, k thể thay thế được. Các nhà đầu tư muốn kinh doanh BĐS CN

thì phải có tiềm lực tài chính. CP cho việc hình thành các BĐS CN rất lớn: cp san lấp MB, CP xây dựng
CSHT, giải quyết vấn đề môi trường, việc làm cho người dân mất đất…Các dn chỉ vào các KCN khi nó
đã hoàn thiện đầy đủ. Nguồn vốn chủ yếu được được huy động từ nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài FDI.
Hoạt động này cũng hàm chứa rủi ro lớn khi các KCN đươc xây dựng lên mà k có dn thuê . Điều này
đòi hỏi các nhà đầu tư phải có chiến lược kinh doanh phù hợp, dài hạn., phải đủ tiềm lực về mọi mặt,
thương hiệu uy tín.
Đặc điểm: là hđ kd đa ngành vừa là hoạt động KD đặc thù
Thị trường BĐS là thịt trường không hoàn hảo, cung phản ứng chậm, thiếu thông tin, khó so sánh, hàng

hoá mang tinh độc quyền. Hoạt động KD BĐS la hoạt động đa ngành, nó liên wan đến nhiều khâu từ
sản xuất dến đầu tư xd BĐS ,lưu thông, khai thác…Nhà đầu tư nói chung va nhà đtư CPCT nói riêng
phải có kiến thức sâu rộng: kinh tế, tài chính, kĩ thuật, ngoại giao…Nh à đầu tư cần làm tốt việc sử
dụng vốn để xd BĐS CN, xd BĐS CN như thế nào,làm thế nào để thu hút các nhà đàu tư…Nhà đtư
phải có những kiến thức đặc thù của KD BĐS CN để từ đó có những quyết định chính xác, có hiệu
quả.
Thực tiễn VN
Hiện cả nước có 2.600 dự án có vốn đầu tư nước ngoài trị giá 25,3 tỉ USD, chiếm 72% quỹ đất của khu

công nghiệp, khu chế xuất và chiếm 60% nguồn vốn FDI. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp (DN) trong
nước cũng đã đầu tư 2.800 dự án, tổng giá trị khoảng 437,5 tỉ USD.
Tuy nhiên, phân khúc thị trường bất động sản công nghiệp vẫn đang trong tình trạng cung không đủ
cầu. Tình trạng này đã khiến hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất tại TPHCM, Đồng Nai, Bình
Dương đang bị “vắt kiệt” với hiệu suất sử dụng gần như 100%.
Trong đó, nhiều khu công nghiệp đang phát triển ở giai đoạn 3, 4, thậm chí giai đoạn 5. Ngoại trừ các
khu công nghiệp, khu chế xuất mới thành lập hoặc đang mở rộng quy mô, còn lại đều có hệ số sử dụng
đất từ 60%-100%. Tình trạng cung không đủ cầu đã khiến các tập đoàn đa quốc gia phải áp dụng
phương thức “xí” chỗ trước khi khu đất được xây dựng
Theo dự kiến, đến năm 2010, quỹ đất dành cho khu công nghiệp, khu chế xuất sẽ tăng lên 65.000 ha và
80.000 ha vào năm 2020. Năm 2015, dự kiến sẽ xây dựng 113 khu công nghiệp mới và cải tạo, mở rộng
27 khu công nghiệp cũ. Những con số trên cho thấy việc thị trường bất động sản công nghiệp là một thị
trường đầy tiềm năng. Dự báo, thị trường này sẽ sôi động trong vòng một vài năm tới.
Tuy nhiên, không nên coi bất động sản công nghiệp là giải pháp kinh doanh thay thế trong một thời gian ngắn. Bởi dù đầu tư ở bất kỳ thị trường nào cũng đều đòi hỏi sự am hiểu và chuẩn bị trong một
thời gian nhất định và đã gọi là đầu tư thì phải là đầu tư dài hạn. Nếu các DN có ý định đầu tư thì nên
coi đây là thị trường để đầu tư mang tính chiến lược, lâu dài.

Chương II : Tạo lập doanh nghiệp bất động sản

Câu 1 : Cơ hội kinh doanh là gì? Để đánh giá khả năng tận dụng cơ hội kinh doanh, nhà quản trị cần phải chú ý đến nhứng vấn đề gì? Hãy phân tích những vấn đề đó.

Trả lời:
Cơ hội kinh doanh là dịp, thời điểm kinh doanh gặt hái được thành công.

Cơ hội kinh doanh bds là dịp, thời điểm kinh doanh bds gặt hái được thành công.
Khi nói đến cơ hội kinh doanh là nói đến những tác động của môi trường kinh doanh đến kinh doanh
một lĩnh vực, một mặt hàng nào đó.
Cơ hội kinh doanh là khách quan, là tất yếu của thị trường với quan hệ cung, cầu và giá cả. người kinh
doanh phải phân tích nhận biết đánh giá được cơ hội kinh doanh và tận dụng cơ hội đó.
Các yếu tố liên quan đến cơ hội kinh doanh cũng là những vấn đề nhà quản trị cần phải chú ý đến để
đánh giá khả năng tận dụng cơ hội kinh doanh:
- Phải có năng lực nhận định, đánh giá và xác định đúng cơ hội.
- Phải có đầy đủ điều kiện, nguồn lực và bản lĩnh để tận dụng.
Phân tích cơ hội kinh doanh
· Đánh giá cơ hội kinh doanh
Thực chất là điều tra, nắm bắt tình hình cầu, cung và giá cả của những bất động sản và dịch vụ bất động
sản có cơ hội trên thị trường.
· Đánh giá mức độ rủi ro và khả năng chống đỡ
Rủi ro về tài sản
Rủi ro về những vấn đề pháp lý kinh doanh
Những rủi ro của thị trường
Người kinh doanh, khi tạo lập doanh nghiệp cần phải phân tích, dự báo tất cả những rủi ro, so sánh với
các lĩnh vực khác, so sánh với những cơ hội kinh doanh đề xác định khả năng chống đỡ, dự tính kết quả
và hiệu quả của đầu tư kinh doanh, đảm bảo tính khả thi của doanh nghiệp khi bắt đầu những hướng
kinh doanh mới.
Phân tích ví dụ về cơ hội kinh doanh bds ở việt nam để làm rõ những vấn đề mà nhà quản trị cần phải
chú ý tới:
Với kinh nghiệm hơn 15 năm kinh doanh thành công, bà Hạnh cho rằng, trong lĩnh vực bất động sản,
điều cốt yếu đầu tiên là phải biết nắm bắt cơ hội đầu tư. "Cơ hội không tự nhiên đến mà mọi người phải
đi tìm kiếm cơ hội", trong quá trình tìm kiếm ấy, việc xác định đâu là thời điểm mà ta có thể chớp lấy
cơ hội đầu tư là hết sức quan trọng.
Thịtrường bất động sản Việt Nam sở dĩ luôn nóng lạnh bất thường, thậm chí có những "cơn sốt ảo"
cung thừa và cầu thiếu không thể liên thông được với nhau có nguyên nhân từ tâm lý kinh doanh kiểu "đám đông" của nhiều nhà đầu tư. Khi thị trường "sốt" thì vô số người "lao" vào mua đất, mua nhà với
giá "trên trời", tới khi thị trường "hạ nhiệt" xuống dốc thì số này thua lỗ, không còn ai thiết tha với bất
động sản khiến thị trường càng "đóng băng". Theo quan điểm của bà Hạnh, thời điểm thị trường ảm
đạm chính là lúc những nhà đầu tư khôn ngoan cần đẩy mạnh kinh doanh, hơn nữa dòng tiền cần được
luân chuyển để sinh lời không thể nằm im ở một mảnh đất nào đó.
Trong kinh doanh bất động sản, không nhất thiết nhàđầu tư cần phải có một lượng vốn lớn, quan trọng
là phải có tầm nhìn về xu hướng phát triển của thị trường. Cần tìm mua những bất động sản từ lúc
chúng có giá trị thấp là một ao hồ hoặc đầm lầy chỉ 2-3 triệu đồng/m2 thậm chí vài trăm nghìn đồng
1m2 , nếu vị trí đó được xác định là sẽ phát triển thành khu đô thị thì giá trị sau đó sẽ cao gấp nhiều lần.
Trong trường hợp không thể bán khu đất đó với giá cao thì đó cũng là khối tài sản có giá trị thừa kế
hoặc giá trị vay thế chấp ngân hàng, với nhiều người đây còn là nguồn thu nhập thụ động ổn định khi
đem đất/nhà cho thuê.
Tuy nhiên, đầu tư bất động sản cũng córủi ro rất lớn, đó là khi nhà đầu tư mắc sai lầm trong việc đánh
giá lợi nhuận của tài sản. Một nhà đầu tư ở Đà Nẵng đã mất trắng 5 tỷ đồng do "lỡ tay" mua một khu
đất rộng 1000 m2 nằm trong vùng quy hoạch của thành phố chỉ được đền bù vài trăm triệu đồng. Do đó,
lời khuyên với các nhà đầu tư là phải quan tâm tới tính pháp lý của bất động sản trước khi đặt bút ký
mua. Miếng đất dù có vị trí địa lý đẹp, địa thế tốt nhưng nếu là đất quy hoạch hoặc đất tranh chấp thì
nhất thiết nên từ chối. Còn nếu đã thẩm định chắc chắn về các điều kiện pháp lý, khả năng sinh lời cao,
hợp với năng lực bỏ vốn thì nhà đầu tư chỉ cần quyết đoán để không bỏ lỡ cơ hội mua vào, nếu không
thể tự quyết định hãy tìm tới các tư vấn viên, hoặc những người có kinh nghiệm để thoát khỏi tâm lý
"sợ mất".
Cũng tại buổi hội thảo, đại diện Công ty Cổ phần Bấtđộng sản An Khang chia sẻ thông tin về những
vịtrí bất động sản có thể sinh lời cao hiện nay tại Hà Nội. Theo đó, các vị trí thuộc thành phố Hà Đông
cũ như khu Văn Quán, Văn Khê chưa bao giờ đứng giá trong 3 năm trở lại đây, trừ khu Văn Phú ít biến
động hơn trong năm 2008. Ngoài ra, các khu Vân Canh, Tây Mỗ cũng là gợi ý mà các nhà đầu tư có thể
tham khảo. Bằng kinh nghiệm của cá nhân, bà Hạnh cho rằng, hiện đang là thời điểm thích hợp để đầu
tư bất động sản.
Nhậnđịnh trên là có cơ sơ, vì theo ông Đặng Quang Phán, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách và Pháp chế
thuộc Tổng cục Quản lý đất đai, dự báo, tới năm 2010, dân số cả nước là 93 triệu người, bình quân mỗi
người dân đô thị sẽ có 80 m2 đất đô thị. Riêng tại Hà Nội, quỹ nhà, đát tái định cư cần khoảng 25.000
lô đất căn hộ và khoảng 1.000 căn hộ chung cư, tổng diện tích đất sử dụng tái định cư khoảng 70 ha; Tp
Hồ Chí Minh cần tái định cư gần 15.000 hộ dân ở ven kênh rạch, khu đô thị mới Thủ Thiêm cần gần
100 ha đất; thủy điện Sơn La cần hơn 600 ha để tái định cư cho đồng bào dân tộc…

Câu 2: Có cơ hội kinh doanh nào cho một cá nhân không đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản nhưng muốn được tham gia vào hoạt động kinh doanh bất động sản độc lập không? Hãy luận giải điều đó trên cả giác độ lý luận, pháp lý và thực tiễn.

Trả lời
Tại Điều 4, Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2007 quy định rất rõ hoạt động kinh doanh bất động sản

bao gồm: kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản; K2 - Điều 8 Luật kinh doanh
Bất động sản có quy định về điều kiện đối với tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản: Tổ
chức, cá nhân khi kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, phải có vốn
pháp định và đăng ký kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật; và NĐ153/2007/NĐ-CP
ngày 15-10-2007

- Điều kiện kinh doanh bất động sản đối với một tổ chức, cá nhân:

· Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, phải
có vốn pháp định và đăng ký kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật.
· Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác
xã, đăng ký kinh doanh dịch vụ bất động sản theo quy định của pháp luật
· Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải có ít nhất một người có
chứng chỉ môi giới bất động sản; khi kinh doanh dịch vụ định giá bất động sản phải có ít nhất hai người
có chứng chỉ định giá bất động sản; khi kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất
hai người có chứng chỉ môi giới bất động sản, nếu có dịch vụ định giá bất động sản thì phải có ít nhất
hai người có chứng chỉ định giá bất động sản.
· Cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập phải đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật và có chứng chỉ môi giới bất động sản
- Điều kiện thành lập doanh nghiệp
Điều kiện thành lập doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005, Các cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân
phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh
nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành
lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân Việt Nam;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những
người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp
khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;
e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;
g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản
Từ những điều trên thì có thể kết luận rằng “ có cơ hội kinh doanh cho một cá nhân không đủ điều kiện
thành lập doanh nghiệp kinh doanh bds nhưng muốn được tham gia vào hoạt động kinh doanh bdx độc
lập nếu người đó có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và có chứng chỉ môi giới bất động
sản. và không vi phạm các điều nêu ở trên.

Câu 3: Vì sao muốn kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã? Điều đó ảnh hưởng đến thị trường bất động sản như thế nào?

Bài làm:
Trên thực tế cho thấy các cá nhân không thành lập doanh nghiệp cũng như hợp tác

xã vẫn có thể tham gia kinh doanh bất động sản được.Nhưng tại sao muốn kinh doanh bất
động sản phải thành lập doanh nghiệp bởi lẽ:
Đảm bảo tính pháp lý:
Pháp luật nhà nước Việt Nam có quy định các Doanh nghiệp hoặc HTX khi muốn tham

gia kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp , hơn nữa bất động sản là hàng
hóa có giá trị lớn vì vậy cần phải thành lập DN hoặc HTX để tạo sự minh bạch trong các
hợp đồng kinh tế, hạn chế những tranh chấp không đáng có
Tạo niềm tin với đối tác và khách hàng
Việc thành lập doanh nghiệp hoặc HTX cần =>>6 tỷ , hơn nữa phải có địa điểm giao dịch ,

giấy phép kinh doanh, khi khách hàng đến DN hoặc HTX để giao dịch mua bán thấy yên
tâm, tin tưởng=>> Xuất hiện nhu cầu mua và hành vi bán nhiều hơn
Có cơ hội mở rộng quy mô kinh doanh
Nhiều doanh nghiệp hoặc HTX hiện nay đã chú ý tới việc thiết lập site để giới thiệu hình

ảnh về doanh nghiệp của mình.đưa thông tin của doanh nghiệp tới khách hành cũng như
đối tác một cách rộng rãi hơn, thêm vào đó là những báo cáo tài chính hàng năm. Những
thông tin cụ thể về doah nghiệp, từ đó khách hàng cũng như đối tác tiếp nhận thông tin về
doanh nghiệp ngày càng rộng rãi =>> Tìm được nhiều người có nhu cầu mua và bán bất
động sản
Những ảnh hưởng đến thị trường bất động sản
Thành lập doanh nghiệp hoặc HTX rõ ràng tác động mạnh đến thị trường bất động sản

ảnh hưởng lớn nhất là giúp cho quá trình giao dịch mua và bán được thuận lợi hơn, ít gặp
rắc rối hơn và những quyết định đồng thời nhanh chóng được xuất hiện hơn.
Trước đây nếu như không thành lập doanh nghiệp hoặc HTX hai bên trao đổi mua bán còn
rất xem chừng nhau vì còn rất nhiều hoài nghi về phía đối tác ? Mọi hành vi dẫn tới quyết
định mua và bán rất gượng và luôn ở tình trạng xem chừng đối tác.Nhưng khi thành lập
doanh nghiệp, chúng ta tin tưởng nhau hơn, mọi hoài nghi về nhau gần như biến mất, bởi
vì nếu có xảy ra tranh chấp hoặc sự cố thì dễ dàng kiện tụng doanh nghiệp này hoặc HTX
kia làm ăn không trung thực=>> tạo được như cầu cũng như nguồn cũng bất động sản rõ
rệt

Câu 4: Khi đầu tư dự án vào các dự án hạ tầng các khu công nghiệp và các đô thị mới , loại hình doanh nghiệp nào phù hợp nhất? Vì sao? Lấy ví dụ thực tế minh họa.

Bài làm:
Để làm những dự án có quy mô lớn có hai yếu tố cần bàn đến đó là : Vốn và phương cách

quản lý
a) Xét vấn đề về vốn.Đối với các dự án nêu trên chỉ có doah nghiệp nhà nước hoặc
các công ty cổ phần mới có thể làm được các dự án đó
b) Với doanh nghiệp nhà nước .Họ mạnh bởi lượng vốn của họ khá lớn, nguồn vốn
của họ được tài trợ bởi nhà nước và vốn quốc tế rót vào, tiềm lực tài chính của
họ rất mạnh, giúp họ có đủ tài chính để có thể tham gia các dự án lớn hơn nữa
họ có ưu thế mạnh về quy hoạch đất đai, giải phóng mặt bằng giúp cho quá trình
cũng như tiến độ xây dựng tiến hành được nhanh chóng như cách quản lý của
các doanh nghiệp này là vấn đề đáng bàn, đó sự quản lý cồng kềnh, phiền hà
thêm vào đó là sự thụ động tiếp cận với thị trường vì vậy mẫu mà cũng như kinh
nghiệm làm sản phẩm không được cao,
c) Nói về công ty cổ phần bản thân họ là sự phát huy tổng hợp về trí lực, tài lực,
kinh nghiệp quản lý vì vậy họ chính là những ứng viên có khả năng nhất
Họ có thể huy động vốn từ các cổ đông, vay ngân hàng thương mại, hoặc phát hành
thêm cổ phiếu vấn đề tài chính họ hạn chế hơn doanh nghiệp nhà nước nhưng đổi

lại họ là những người quản lý nhạy bén, biết nắm bắt cơ hội cũng như có những

chiến lược , kinh nghiệm thực hiện dự án vì vậy họ hoàn toàn có thể xây dựng được
những công trình lớn như thế
Ví dụ:
Thực tế ở việt nam có rất nhiều công ty cổ phần xây dựng đã tham gia xây dựng rất

nhiều công trình có tầm cỡ như: Công ty cổ phần vinaconex-1 xây dựng trug tâm
hội nghị quốc gia (một công trình tầm cỡ việt nam), ,,,,,, tự lấy ví dụ

Câu 5 : Khi đầu tư vào những bất động sản nhỏ, ngắn hạn, vào những lĩnh vực tư vấn, DV nhỏ lẻ hoặc tham gia vào từng khâu trong KDBĐS, nên lựa chọn loại hình DN nào? Vì sao ? Lấy VD thực tế để minh họa.

Trả lời: Nên lựa chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân bởi vì:
- Các doanh nghiệp này do là của các cá nhân nên có ưu điểm là đơn giản, ngọn nhẹ, năng
động, nhạy bén và tính hiệu quả thường cao
- Do là của các cá nhân nên không đòi hỏi vốn lớn, phù hợp với những BĐS nhỏ, ngắn hạn
- Các doanh nghiệp tư nhân bị hạn chế bởi vốn, tri thức, kinh nghiệm kinh doanh, năng lực
quản trị kinh doanh, uy tín…vì thế không đủ điều kiện để thực hiện những dự án lớn, dài hạn
Ví dụ minh họa:

Câu 6 : trong hoạt động KDBĐS, các DN có vốn đầu tư nước ngoài nên đầu tư vào lĩnh vực nào? Vì sao? Lấy VD thực tế minh họa.

Trả lời: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường phù hợp với các lĩnh vực đầu tư xây dựng
BĐS có quy mô, giá trị lớn, có trình độ kỹ thuật, công nghệ cao, trong tư vấn, môi giới, trong quản lí
các bất động sản lớn.
Lí giải điều này: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tiềm lực về tài chính, thương hiệu, uy
tín, có trình độ quản lí cao, dày dặn kinh nghiệm

Câu 7 (chương II): Trong hoạt động kinh doanh BĐS, các doanh nghiệp nhà nước nên tập trung đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh nào? Vì sao? Lấy ví dụ minh họa.

Các doanh nghiệp NN nên tập trung đầu tư vào tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê và
cho thuê mua. Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng. Xây dựng các công trình BĐS lớn,
quy mô, trọng điểm quốc gia, vùng, cơ sỏ hạ tầng.
Do: Ưu điểm của doanh nghiệp nhà nước là có nguồn lực đầu tư lớn: nguồn vốn của nhà nước, hỗ trợ
quốc tế( có nhà nước đảm bảo); ưu thế về đất đai theo quy hoạch. Sự quan tâm của nhà nước và tạo
nhiều cơ hội để thực hiện vai trò gương mẫu, chủ đạo trong nền kinh tế. Bên cạnh đó nhược điểm của
doanh nghiệp NN là tổ chức quản lý, bộ máy cồng kềnh, cơ chế quản lý kém hiệu quả, thiếu nhạy bén
với thị trường hơn các loại hình doanh nghiệp khác nên DNNN không hợp với lĩnh vực dịch vụ tiếp cận
thị trường như môi giới, quản lý vận hành … sẽ không nên chọn loại hình doanh nghiệp này.
VD: Tổng công ty Xây dựng Sông Đà là tổng công ty xây dựng nhà nước đã tham gia lĩnh vực xây
dựng các công trình cầu, đường giao thông, những tòa nhà với quy mô rất lớn cò giá trị trăm tỷ đồng.
Với ưu thế của công ty NN và biết xác định đúng lĩnh vực kinh doanh BĐS nên công ty đã phát triển và
lớn mạnh rất nhanh, trở thành thương hiệu nổi tiếng trên thị trường.

Câu 8 (chương II): Hãy cho biết các lĩnh vực hoạt động của công ty BĐS. Theo em lĩnh vực nào có cơ hội phát triển nhất? Vì sao?

*Các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp BĐS
1. Tổ chức cá nhân trong nước được kinh doanh BĐS trong phạm vi sau đây:


- Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua.

- Mua nhà, xây dựng công trình để bán, cho thuê, cho thuê mua.
- Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại
- Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ
tầng.
- Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đầu tư công trình hạ tầng để chuyển nhượng,
cho thuê, thuê quyền sử dụng đất đã có hạ tầng để cho thuê lại.
2. Tổ chức cá nhân trong nước được kinh doanh dịch vụ BĐS trong phạm vi sau đây:
- Dịch vụ môi giới BĐS
- Dịch vụ định giá BĐS
- Dịch vụ sàn giao dịch BĐS
- Dịch vụ tư vấn BĐS
- Dịch vụ đấu giá BĐS
- Dịch vụ quảng cáo BĐS
- Dịch vụ quản lý BĐS
3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài người Việt Nam định cư ở nước ngoài được kinh doanh
BĐS và kinh dịch vụ BĐS trong phạm vi sau đây:
- Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua.
- Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ tầng
- Kinh doanh dịch vụ BĐS
- theo những quy định cụ thể của Chính phủ
* Theo em trong các lĩnh vực hoạt động của DN BĐS, ở Việt Nam hiện nay các lĩnh vực sau có cơ
hội phát triển nhất
- Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua.

- Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại
- Dịch vụ môi giới BĐS
- Dịch vụ sàn giao dịch BĐS
Do: trong tình hình hiện nay xã hội đang tập trung vào sản phẩm nào trong lĩnh vực BĐS đang có chiều
hướng ra tăng. Các dự án đô thị mới, đặc biệt là các căn hộ trung cư đang mọc lên ngày càng nhiều vì
giá đất và giá nhà ở quá đắt. Trong các lĩnh vực trên các nhà đầu tư đã biết phân khúc thị trường khá rõ
ràng để tận dụng được tối đa các cơ hội phát triển, hướng tới những người có mức thu nhập khác nhau.
Nhu cầu nhà ở hiện nay tại Việt Nam đang là vấn đề cấp thiết, mà trong năm qua khủng hoảng kinh tế
ảnh hưởng toàn cầu, khả năng thanh toán của người dân bị hạn chế so với những năm trước, do vậy đầu
tư tạo lập nhà, bán hoặc cho thuê vẫn luôn là thị trường sôi nổi. Nước ta đang trên đà phát triển, các
công ty mở ra ngày càng nhiều nhu cầu văn phòng, trụ sở công ty mua hoặc cho thuê cũng rất lớn. Bên
cạnh đó kinh doanh BĐS ở nước ta còn chưa chuyên nghiệp, tính cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài còn thấp nên dịch vụ môi giới và sàn giao dịch rất cần thiết. Các nhà tư vấn khi đã chuẩn bị đủ
nguồn lực thì tham gia vào lĩnh vực này sẽ thu được những kết quả cao do nhu cầu thị trường là quá
lớn.

Chương III :QTSX công trình BĐS

I. QTSX công trình BĐS :
II. QT Nhân lực trong DN BĐS :

Câu 1: Quản trị nhân lực trong kinh doanh bất động sản là tổng thể tất cả các hoạt động nhằm thu hút, phát triển để có được số lượng, chất lượng nhân lực tốt, trên cơ sở đó tổ chức, bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của các hoạt động kinh doanh bất động sản một cách có hiệu quả và bền vững nhất.

Trong xây dựng công trình bất động sản cần quan tâm đến một số nội dung cơ bản của quản trị nhân
lực, đó là:
+ Hoạch định nguồn nhân lực: Vì trong quá trình tổ chức nguồn nhân lực, người ta cần duy trì sự ổn
định tương đối giưa các bộ phận và hạn chế sự thuyên chuyển vì vậy việc hoạch định chính xác nhu
cầu sẽ giúp doanh nghiệp ổn định hơn về nhân sự.
+Tuyển dụng nguồn nhân lực: Kinh doanh bất động sản là một trong những lĩnh vực kinh doanh mới
nhưng lại có rất nhiều bộ phận và nhiều người tham gia, vì vậy quà trình tuyển dụng phải đáp ứng đúng
nhu cầu, có thể sử dụng nhiều phương pháp thu hút nhân lực cho doanh nghiệp
+ Đào tạo, phát triển: Do số lượng người chuyên gia về lĩnh vực bất động sản vẫn còn ít, đặc biệt trong
thẩm định giá, vì thế hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao kĩ năng, trình độ cũng
là một nội dung cơ bản trong kinh doanh bất động sản.
+ Đánh giá năng lực thực hiện của nhân viên: Người quản lý nguồn nhân lực phải am hiểu, bao quát và
đánh giá được kết quả lao động của nhân viên ví sản phẩm kinh doanh bất động sản rất đa dạng và
phân tán , cần phải có cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá từng hoạt động.
+ Quản trị tiền lương, thưởng: Đây là lĩnh vực kinh doanh có cơ cấu lao động thay đổi: có thể mang
tính thời vụ, vì vậy chế độ thù lao đối với mỗi đối tượng là khác nhau.
Trong các nội dung trên , hoạch định nguồn nhân lực là nội dung quan trọng nhất, vì nhu cầu về nhân
lực trong mỗi bộ phận là thay đổi và nó đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều người. Kinh doanh bất động
sản là quá trình đầu tư dài nên cần sự ổn định tương đối về nhân lực giữa các bộ phận và hạn chế sự
thuyên chuyển. Việc hoạch định nhu cầu nguồn nhân lực sẽ giúp doanh nghiệp có một cơ cấu lao động
ổn định nhất trong từng bộ phận : chuyên gia môi giới, chuyên gia tư vấn khách hang, đội ngũ nghiên
cứu, khảo sát thị trường,…

Câu 2: Theo cấp và lính vực trong hệ thống quản trị có những nhóm nhân lực sau:

+) Theo cấp : *Quản trị cấp cao: Tổng giám đốc điều hành mọi hoạt động công ty bất động sản
· Quản trị cấp trung gian: Trưởng phòng ban trong công ty: trưởng phòng nghiên cứu thị
trường, trưởng phong định giá bất động sản…
· Quản trị cấp cơ sở : Trưởng các nhóm làm việc
Các trưởng phòng ban
+) Theo lĩnh vực: *Môi giới bất động sản,
· Tư vấn bất động sản,
· Định giá bất động sản, kinh
· Kinh doanh mua bán cho thuê bất động sản
· Các hoạt động hỗ trợ khác: Điều tra, nghiên cứu thị trường…
· Đầu tư, bán đấu giá bất động sản
Trong kinh doanh bất động sản văn phòng cho thuê ,nhóm nhân lực về đầu tư xây dựng các văn phòng
cho thuê là quan trọng nhất. Vì hiện nay dịch vụ văn phòng cho thuê ngày càng phát triển, từ đó việc
đầu tư xây dựng các văn phòng cho thuê, nghiên cứu thị trường để việc đầu tư có kết quả vấn đề cơ bản
nhất. Đối tượng khách hang chính la các doanh nghiệp đang muốn mở chi nhánh, văn phòng đại diện.

Câu 3: Kinh doanh bất động sản là lĩnh vực có thời gian đầu tư kéo dài, Điều đó dẫn đến:

+) Đòi hỏi có nhóm lực lượng cốt yếu, được duy trì ổn định. Đó là nhóm hoạch định chiến lược.
+) Trong quá trình tổ chức nguồn nhân lực cần duy trì sự ổn định tương đối giữa các bộ phận và hạn
chế sự thuyên chuyển.
Ví dụ: Dịch vụ môi giới cần chuyên gia môi giới, tiếp khách hang, phân tích cho khách hang… nhưng
đằng sau chuyên gia môi giới đó cần một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp nghiên cứu và khảo sát thị
trường.
Liên hệ với quản trị nhân lực trong đầu tư xây dựng bất động sản công nghiệp:
+) Cần phải có nhóm nhân lực trong lĩnh vực xây dựng, những chuyên gia về công nghệ, dây chuyền
sản xuất…. Có cơ chế quản lý, kiểm tra và giám sát đi liền với quá trình tổ chức để đảm bảo công trình
đảm bảo chất lượng và có thể khai thác, sử dụng.
+)Người quản lý có am hiểu rộng và có tính bao quát đến toàn bộ qua trình từ khi chuẩn bị đầu tư, thực
hiện xây lắp và đưa công trình vào sử dụng đúng tiến độ đã hoạt động.
+) Do đây là quà trình đầu tư kéo dài cần có cơ chế phối kết hợp giũa lao động thường xuyên và lao
động thời vụ , điều hoà lao động giữa các hạng mục công trình từ đó đảm bảo một cơ chê nguồn lực
ổn định nhất.

Câu 4: kinh doanh bất động sản là lĩnh vực thường có thời gian đầu tư kéo dài. Điều đó có ảnh hưởng gì đến quản trị nhân lực?

Liên hệ với quản trị nhân lực trong đầu tư kinh doanh bất động sản công nghiệp.
Câu trả lời:
Kinh doanh bất động sản là lĩnh vực kéo dài dẫn đến quản trị nhân lực phải mang tính ổn định vì vậy
yêu cầu với quản trị nhân lực là:
- có nhóm lực lượng cốt yếu, được duy trì ổn định. Đó là nhóm hoạch định chiến lược.
Kinh doanh bất động sản cần có thời gian, và cần có chiến lược lâu dài, tính toán kỹ lưỡng, không thể
chỉ trong ngày một ngày hai mà thu được vốn, và lợi nhuận ngay được, do vậy đòi hỏi người quản lý
cần phải có một nhóm lực lượng cốt yếu, được duy trì ổn định, không thể nóng vội, người quản lý và
nhóm cần phải đánh giá tình hình, nghiên cứu thị trường bất động sản, chờ thời cơ chin muồi để tiến
hành kinh doanh bất động sản. Nếu nhóm mà không kiên nhẫn, việc đầu tư bất động sản lâu làm mọi
người trong nhóm hoang mang, thì khó lòng có thể duy trì được nhóm và định hướng chiến lược lâu
dài, do đó cần phải chú trọng đến việc xây dựng lực lượng cốt yếu, có chất lượng cao, duy trì ổn định.
- trong quá trình tổ chức nguồn nhân lực, người ta cần duy trì sự ổn định tương đối giữa các bộ phận, và
hạn chế sự thuyên chuyển.
Việc hạn chế thuyên chuyển nhiều, sẽ làm nhân viên hoang mang, mất lòng tin vào công ty, có người
thì thích làm ở nhiều bộ phận, nhiều vị trí, nhưng thường thì mọi người thích ổn định công việc hơn, hơn nữa, kinh doanh bất động sản là một linh vực có thời gian đầu tư kéo dài, do vậy sự thuyên chuyển
nhiều sẽ làm người nhân viên lại phải học hỏi, và tìm hiểu bất động sản mới, mất thêm thời gian.
Liên hệ với quản trị nhân lực trong đầu tư kinh doanh bất động sản công nghiệp:
Các công trình xây dựng công nghiệp, giao thông: đường xá, cầu cống, bến cảng, sân bay, bãi đỗ…
được xây dựng gắn liền với đất đai.
Thị trường bất động sản được dự kiến là sẽ sôi động trong vài năm tới, năm 2015 dự kiến sẽ xây
dựng113 khu công nghiệp mới và cải tạo, mở rộng 27 khu cũ, con số đó cho thấy việc thị trường bất
động sản công nghiệp là một thị trường đầy tiềm năng, do vậy nếu chủ đầu tư định đầu tư vào lĩnh vực
này thì nên tìm hiểu, có sự am hiểu, và chuẩn bị trong một thời gian nhất định và đã gọi là đầu tư dài
hạn, có tầm nhìn dài hạn chứ không phải chỉ đầu tư manh mún, nhỏ lẻ
Do quá trình đầu tư thường kéo dài, khi tiến hành đầu tư kinh doanh bất động sản công nghiệp thì phải
tìm hiểu kỹ càng về nhu cầu thị trường và điều kiện thuận lợi tại địa điểm đầu tư, bởi vì khu công
nghiệp ngoài yếu tố mặt bằng ,các yếu tố về cơ sở hạ tầng giao thông như đường xá, cầu cảng cũng tác
động rất lớn đến khía cạnh dầu tư, nếu tìm hiểu không kỹ, quá trình đầu tư thì dài sẽ dân đến thiệt hại
về kinh tế, tiền của cho nhà đầu tư, do vậy, cần cử một nhóm nhân viên tiến hành điều tra trước khi
quyết định đầu tư, và người quản lý sẽ giám sát hoạt động của nhóm nhân viên, để xem hiệu quả của
công việc, và tính khả thi của dự án đầu tư.

Câu 5: đặc điểm kinh doanh bất động sản là mang tính đa dạng và phân tán, đặc điểm đó ảnh hưởng gì đến quản trị nhân lực. liên hệ với quản trị nhân lực trong đầu tư xây dựng khu đô thi mới.

Trả lời:
- vì sản phẩm bất động sản không phải là sản phẩm đồng nhất, nó là sản phẩm dị biệt, có rất nhiều sản
phẩm trung gian tham gia vào.
- quá trình kinh doanh bất động sản có nhiều bộ phận, nhiều người tham gia vào.
Do vậy: yêu cầu là quá trình tổ chức lao động phải phù hợp với tính chất đa dạng, phân tán của công
việc và đồng thời phải có cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát đi liền với quá tình tổ chức
Quản lý nguồn lực rất phức tạp, khó khăn dẫn đến người quản lý phải là những người có được am hiểu
rộng và có tính bao quát, người đó phải có khả năng nhìn nhận, đánh giá kết quả lao động với nhiều
giác độ khác nhau.
Liên hệ với quản trị nhân lực trong đầu tư xây dựng khu đô thị mới:
Mỗi một khu đô thị có một đặc thù, phải tìm hiểu vị trí của mình để phát huy. Chẳng hạn khi nói đến
đặc thù hà nội là hệ thống cây xanh, ao nước mặt hồ, do vậy nhà quản lý phải dựa vào đó để định hướng
phát triển, xây dựng khu đô thị.
Khi quyết định đầu tư vào khu đô thị, người quản lý phải xác định được các yếu tố: sự an cư, tính cạnh
tranh, tình hình tài chính… để có thể đầu tư hiệu quả.
Khi xác định đầu tư vào khu đô thị, người quản lý còn phải chú trọng đến trường học, cơ sở y tế, chợ
búa… đây là những sản phẩm trung gian tham gia cùng quá trình đầu tư, vì vậy khi đầu tư vào khu đô
thị mới thì phải chú ý đến vấn đề này.
Sự bất cập trong quá trình đầu tư đô thị mới rất nhiều, như là tình trạng xuống cấp nhanh chóng của cơ
sở hạ tầng, do vậy phải có cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát đi liền với quá trình tổ chức.
III. QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
1. Hãy cho biết các mối quan hệ tài chính của một doanh nghiệp kinh doanh BĐS.

Trong một doanh nghiệp (DN) BĐS nói riêng hay DN hoạt động trong nền kinh tế nói chung thì đều có
các mối quan hệ tài chính-tiền tệ cơ bản sau:
- Quan hệ tiền tệ với khách hàng (KH);
- Quan hệ tiền tệ với nhà cung ứng (NCƯ);
- Quan hệ tiền tệ với người lao động (NLĐ);
- Quan hệ tiền tệ với Nhà nước (NN);
Để làm rõ thêm những mối quan hệ này ta đi sâu phân tích từng mối quan hệ như sau:
2. Phân tích vai trò của quản trị tài chính trong doanh nghiệp kinh doanh BĐS.
Quản trị tài chính DN là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết

định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là: tối đa hoá lợi nhuận, làm
tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường.
Vai trò của hoạt động quản trị tài chính trong doanh nghiệp bao gồm:
- Huy động và bảo đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp;
- Tổ chức sử dụng vốn sản xuất kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả cho doanh nghiệp;
- Giám sát kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
3. Hãy cho biết các loại thuế và cách tính thuế đối với doanh nghiệp kinh doanh BĐS.
Thuế là khoản tiền mà các cá nhân và tổ chức bắt buộc phải đóng góp theo nghĩa vụ vào Ngân sách Nhà

nước theo luật định để đáp ứng các nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước vì phúc lợi xã hội, vì sự phát triển
đất nước.
Ở nước ta, chính sách thuế là một công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, thường xuyên được sử dụng để
điều tiết các mối quan hệ cung cầu, cũng như để tác động một cách gián tiếp hành vi của các chủ thể
tham gia vào hoạt động kinh tế quốc dân. Hiện nay, hệ thống thuế nước ta bao gồm 10 sắc thuế sau:
1.Thuế sử dụng đất nông nghiệp; 2.Thuế chuyển quyền sử dụng đất; 3.Thuế nhà, đất; 4.Thuế tài
nguyên; 5.Thuế GTGT; 6.Thuế xuất nhập khẩu; 7.Thuế thu nhập doanh nghiệp; 8.Thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao, 9.Thuế tiêu thụ đặc biệt và 10.Thuế môn bài. Sau đây là các loại thuế và
cách tính thuế đối với doanh nghiệp kinh doanh BĐS gồm:
1. Thuế sử dụng đất:
Thuế sử dụng đất là thuế…
Đối với đất Nông nghiệp việc tính thuế được dựa theo:
- Diện tích đất sử dụng;
- Hạng đất sử dụng, hạng đất được phân loại căn cứ vào 5 yếu tố: Chất đất, vị trí, địa hình,
điều kiện khí hậu, điều kiện tưới tiêu. Đối với đất trồng cây hàng năm có 6 hạng, đối với đất trồng cây
lâu năm có 5 hạng.
- Mức thuế suất: tức là định suất thuế tính bằng kg thóc theo các hạng đất.
Đối với đất ở: Căn cứ theo pháp lệnh sửa đổi bố sung một số điều của pháp lệnh thuế nhà, đất ngày
31/07/1992, mức thuế đất quy định như sau:
- Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc thành phố, thị xã, thị trấn mức thuế đất bằng
03 lần đến 32 lần mức thuế sử dụng đất Nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong vùng. Mức thuế cụ
thể phụ thuộc vào vị trí đất của thành phố, thị xã, thị trấn;
- Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng ven đô thị, ven trục giao thông, mức
thuế bằng 1,5 đến 2,5 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong vùng. Mức
thuế cụ thể phụ thuộc vào vùng ven của loại đô thị và trục giao thông chính.
- Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng nông thôn đồng bằng, trung du, miền
núi mức thuế đất bằng 01 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp ghi thu bình quân trong xã.
2. Thuế chuyển quyền sử dụng đất:
Thuế chuyển quyền sử dụng đất là…
Căn cứ điều 07 của Luật số 17/1999/QH10 về sử đổi, bổ sung một số điều của luật thuế chuyển quyền
sử dụng đất đã được Quốc hội thông qua ngày 22 tháng 06 năm 1994 thì mức thuế suất để tính thuế
chuyển quyền sử dụng đất quy định như sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối thuế suất là 2%.
- Đất ở, đất xây dựng công trình và các loại đất khác (đất phi nông nghiệp) thuế suất là 4%.
3. Thuế trước bạ
Thuế (lệ phí) trước bạ là …
Căn cứ Nghị định số 80/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
địng số 176/1999/NĐ-CP ngày 21/12/1999 và Nghị định số 47/2003/NĐ-CP ngày 12/05/2003 của
Chính phủ về lệ phí trước bạ ta có cách tính thuế trước bạ đối với BĐS như sau:
Miễn thuế trước bạ đối với: nhà ở, dất ở của hộ nghèo; nhà ở, đất ở của người dân tộc thiểu số ở các xã,
phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn; phương tiện thuỷ nội địa không có động cơ trọng tải toàn phần
đến 15 tấn hoặc phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính đén 15 mã lực hoặc phương tiện có
sức chở người đến 12 người.
Tính thuế theo tỷ lệ (%) thu lệ phí trước bạ được quy định đối với BĐS như sau: Nhà đất là 0,5%.
4. Thuế Thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp kinh doanh BĐS
Thuế TNDN là loại thuế đánh trên thu nhập của DN nói chung và doanh nghiệp kinh doanh BĐS cũng

phải chịu sắc thuế này. Thao Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/06/2008 thì
thuế suất đánh trên thu nhập của doanh nghiệp là 25%
5. Thuế Thu nhập cá nhân do chuyển nhượng BĐS
Ngày 21/11/2007 Quốc ban hành Luật Thuế Thu nhập Cá nhân số 04/2007/QH12 có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 đã quy định về việc đóng thuế thu nhập cá nhân và nó cũng ảnh hưởng
tới thu nhập của các cá nhân, tổ chức có thu nhập từ hoạt động mua bán hay chuyển nhượng BĐS. Sắc
thuế này nhắm tới thu nhập nói chung nhưng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước từ hoạt đông BĐS là
lớn hơn cả. Các văn bản dưới Luật Thuế Thu nhập cá nhân gồm:
- Nghị định số 100/2008/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 08/09/2008 quy định chi tiết một số
điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2009).
- Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính ban hành hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số
100/2008/NĐ-CP.
- Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/03/2009 của Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn
sửa đổi, bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008.
- Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/08/2009 của Bộ Tài Chính ban hành hướng dẫn
về thuế thu nhập cá nhân đối với trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động
sản.
Theo Thông tư 161 thì đối tượng phải nộp thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) bao gồm: Cá nhân chuyển
nhượng đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản. Cá nhân được nhận thừa kế, quà tặng đối với
trường hợp nhận thừa kế quà tặng là bất động sản. Trừ trường hợp là chuyển nhượng BĐS giữa vợ với
chồng, giữa cha mẹ với con cái; giữa ông, bà với cháu với cháu; giữa anh chị em ruột với nhau hay
trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại VN.
Theo Luật thuế TNCN, thông tư 84/2008, thông tư 62 quy định áp dụng thuế suất 2% hoặc 25% để tính
thuế theo nguyên tắc:
- Nếu đủ điều kiện xác định được thu nhập chiụ thuế TNCN (TNCT = Giá chuyển nhượng
- Giá vốn và các chi phí liên quan) thì áp dụng thuế suất 25% trên TNCT.
- Nếu không xác định được giá vốn hoặc xác định không đúng giá vốn tại thời điểm mua
thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng.
Trong đó:
- Giá chuyển nhượng: là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng cho người mua mới.
- Giá vốn và các chi phí liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng: là giá ghi trên hợp đồng
góp vốn để hưởng quyền mua nhà, mua căn hộ đã ký với tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản,
cộng với các chi phí liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng (nếu có phát sinh và có hóa đơn, chứng
từ hợp pháp).

IV : Hạch toán KDBĐS :
Câu 1. Vì sao cần hạch toán KDBĐS?
Hạch toán KDBĐS là công cụ & phương pháp quản lý KD bằn việc phân tích & giám sát mọi khoản

thu chi trong quá trình hình thành và khai thác sử dụng BĐS để bảo đảm việc KD có lãi. à Cần phải
hạch toán KDBĐS vì :
1. Để kiểm soát chặt chẽ các chi phí trong quá trình phát triển & khai thác sử dụng BĐS &
tìm mọi cách để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tiết kiện chi phí, tiết kiệm đất đai, tăng công suất sử
dụng & khai thác BĐS.
2. Cho phép tính đúng , đủ các khoản thu, chi liên quan đến quá trình KD, tìm ra các biện
pháp điều chỉnh trong khâu tổ chức sản xuất, xây lắp…nhằm giảm chi phí, đồng thời kiểm soát đc các
rủi ro trong quá trình đầu tư xây dựng & tiêu thụ SP BĐS trên thị trường .
3. Nâng cao khả năng độc lập, tự điều khiển của người kinh doanh, phát huy tính năng động
sáng tạo, nhanh nhạy trong quá trình kinh doanh.
Câu 2 : Hạch toán KDBĐS có những đặc điểm nào khác vs hạch toán KD các hàng hóa thông thường
khác?
V. Marketing trong kinh doanh bất động sản.
Câu 1: Nội dung Marketing kinh doanh BĐS
*/ Theo quan điểm hiện đại: Marketing là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ phát hiện ra và

biến sức mua của người tiêu thụ thành nhu cầu thật sự về một sản phẩm cụ thể, đến chuyển sản phẩm
đó đến người tiêu thụ một cách tối ưu.
*/ Marketing trong kinhdoanh bất động sản là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các
thành viên xã hội có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo lập, chào bán và trao đổi
sản phẩm dịch vụ bất động sản.
*/ Nội dung:
Theo quan niệm trên, nội dung của marketing (bán) BĐS bao gồm tất cả các hoạt động từ tiếp cận
phát hiện ra nhu cầu đến đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng về BĐS qua đó đạt được mục
tiêu của mình.
- Nghiên cứu thị trường BĐS hình thành ý tưởng sản phẩm
Có rất nhiều cách thức tiếp thị cho bất động sản cần bán, qua đây chúng ta sẽ nghiên cứu về một

trong những cách thức tiếp thị rất hiệu quả trong thực tế liên quan đến bất động sản.
+) Lập một danh sách tất cả các đặc điểm về bất động sản của mình đang có và sẽ có.Thậm có thể thiết
kế một tờ rơi quảng cáo bắt mắt để đưa cho khách hàng tiềm năng, trong đó, những đặc điểm đó được
mô tả chi tiết.
+) Mỗi một bất động sản đều đặc biệt và có địa điểm cụ thể trong đó có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực
nên cần chuẩn bị một danh sách chi tiết bao gồm cả hai mặt này và soạn sẵn những câu trả lời cho các
câu hỏi mà khách hàng có thể hỏi, trong đó nêu bật những điểm tích cực, giảm đến mức tối thiểu những
mặt tiêu cực.
- Phân đoạn thị trường BĐS.
Vdu trong thị trường nhà ở được phân thành nhà ở giành cho người có thu nhập thấp hay phân khúc
nhà ở giành cho những người có thu nhập cao… Để từ đó doanh nghiệp chọn được một phân khúc phù
hợp với khả năng và năng lực tài chính của doanh nghiệp.
- Hình thành dự án.
Đây là giai đoạn thiết kế sản phẩm, cụ thể hóa ý tưởng của nhà đầu tư nhằm thỏa mãn nhu cầu và ước
muốn của khách hang.
- Xây dựng và phát triển sản phẩm BĐS
Nôi dung của marketing trong giai đoạn này là kết nối các bộ phận trong quá trình xây dựng. Sản

phẩm của giai đoạn trước là đầu vào cho giai đoạn sau nên có thể coi đây là một quá trình tiêu thụ trong
nội bộ doanh nghiệp sản phẩm được bán cho khách hàng bên trong.
- Xây dựng chính sách giá.
Tùy thuộc vào phân đoạn thị trường, đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp đã lựa chọn hoặc chiến

lược phát triển của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể sử dụng các chính sách giá khác nhau. Giả sử
doanh nghiệp chọn phân khúc nhà trung cư với mức giá trung bình…
- Trưng bày bất động sản
Sản phẩm đem ra trưng bầy có thể là một mô hình kết hợp với bài trình bầy bằng slide, video, máy

tính đều là những công cụ bán hàng tuyệt vời mà ít tốn chi phí. Vấn đề chi phí phụ thuộc và việc doanh
nghiệp muốn chúng chi tiết và tầm cỡ như thế nào.
- Các chiến lược quảng cáo
Quảng cáo là điều cần thiết đối với hầu hết các loại hình bất động sản, nhưng phải cẩn thận với nó.

Bạn nên đăng quảng cáo trên những tờ báo phục vụ những độc giả mà bạn muốn hướng đến. Khi đăng
tin bạn nên đặt quảng cáo tại một vị trí thuận lợi trên tờ báo để hầu hết khách hàng mà mình muốn
hướng đến sẽ nhìn thấy với đủ màu sắc, đầy tính thẩm mỹ, có kích cỡ đủ lớn để người đọc có thể nhìn
thấy.
- Tiến hành các chương trình xúc tiến bán hàng
Các nhà xây dựng lớn và các nhà đầu tư bất động sản có ngân sách lớn danh cho tiếp thị thường tiến

hành các chương trình xúc tiến bán hàng. Ví dụ, nếu bán ngôi nhà đặc biệt trên một sân gôn riêng, hãy
tặng cho khách hàng một lượt chơi gôn miễn phí để thu hút họ đến chơi gôn và mua thẻ hội viên câu lạc
bộ và có thể nhìn qua các căn dành cho một gia đình ở gần đó được bán với giá cao hoặc các căn nhà ở
gần đó có vị trí đẹp hơn.
Có nhiều phương thức sáng tạo để các nhà đầu tư có thể tiến hành chương trình xúc tiến bán hàng có
hiệu quả. Ví dụ, tổ chức một buổi tiệc ra mắt và mời những người có thể giúp bạn bán được bất động
sản, đó là các nhà môi giới bất dodọng sản và các đại lý bán hàng để họ biết có những gì và số tiền hoa
hồng họ có thể nhận được qua việc tham gia bán hàng và cho thuê.
Nếu bạn không quảng bá và xúc tiến những gì mình cần bán và những gì bạn đang cố gắng để làm
thì bạn sẽ không thành công trong việc thu hút khách hàng.
- Tiếp thị đến người mua
Chiến lược tiếp thị tốt nhất đến người mua bất động sản là thông qua đại lý bán hàng có hiểu biết, thân

thiện. Nếu bạn, với tư cách là chủ bất động sản, có những đặc tính như thế thì việc bạn làm đại lý bán
hàng hoặc một nhà môi giới có khả năng và có thể công hiến nhiệt huyết cho sản phẩm. Phải đảm bảo
rằng họ có đủ các công cụ để thực hiện công việc hiệu quả. Hầu hết mọi người bán hàng có phản ứng
rất thiện chí với những người bán hàng có ích nhưng lại cảm thấy không thoải mái với những người quá
huênh hoang tự cao.

Câu 2: Trình bầy nhu cầu và động cơ thúc đẩy tiêu dùng BĐS
- Nhu cầu là một cảm giác thiếu hụt một cái gì đó. Vậy, nhu cầu tiêu dùng bất động sản chính là nhu

cầu về sử dụng loại hàng hóa BĐS nào đó mà hiện tại chưa được đáp ứng. VD nhu cầu được mua nhà
trong nước việt kiều, nhu cầu được mua nhà ở HN,…
- Động cơ chỉ sức mạnh tác động lên một người hoặc sức mạnh nảy sinh ngay trong lòng anh ta, thúc
đẩy người đó hành động hướng tới một mục tiêu nhất định.
Trong tiêu dùng BĐS động cơ để một người mua nha có thể là: để ở, để kinh doanh, cho thuê,…đó
chính là mục tiêu của việc mua nhà để j. có thể coi mục tiêu là động cơ (động lực) để hành động thỏa
mãn nhu cầu
- Quan hệ giữa động cơ và nhu cầu: Một người bắt đầu hoạt động thường có động cơ là nhằm thỏa mãn
những nhu cầu còn chưa được bù đắp. Ngược lại, khi một nhu cầu đã được thỏa mãn, thì động cơ làm
việc cũng biến mất theo. Nhu cầu và động cơ lúc nào cũng đi kèm với nhau. 

Câu 5: Trình bày chiến lược sản phẩm và dịch vụ trong Marketing bất động sản.

- Marketing thương hiệu: làm thế nào để khuyeech trương và tạo thanh thế cho một thương
hiệu trong dài hạn.
- Marketing chủng loại sản phẩm: làm thế nào để tất cả các sản phẩm trong chủng loại đều
được khách hàng chấp nhận và quyết định về các thời điểm giới thiệu hoặc rút lui sản phẩm.
- Marketing sản phẩm mới: nên chào hàng sản phẩm mới nào, khi nào, ở đâu và như thế
nào.
- Marketing cho từng giai đoạn thị trường: biện pháp Marketing cho từng đoạn thị trường
phải được phân biệt như thế nào.
- Marketing theo khu vực địa lý.
- Marketing cho khách hàng quan trọng: dài hạn và quy mô lớn.

Câu 6: Hãy nêu chính sách giá và lựa chọn giá trong Marketing bất động sản.

- Giá xâm nhập: thấp để chiếm lĩnh thị trường.
- Giá hớt váng: cao để thu lợi nhuận siêu ngạch.
- Giá theo chủng loại sản phẩm: giá theo các cấp bậc của chủng loại sản phẩm tương quan
với cấp bậc về chất lượng và giá.
- Giá chọn gói sản phẩm: ngoài sản phẩm chính giá không cao, có nhiều sản phẩm, dịch vụ
bổ sung, có nó mới tạo ra sự hoàn chỉnh, hướng người mua có quyết định chọn gói.
- Giá cho sản phẩm phụ hoặc bổ sung: định giá sản phẩm chính thấp nhưng sản phẩm phụ
hoặc bổ sung cao, người mua đã mua sản phẩm chính, bắt buộc phải mua sản phẩm bổ sung cao.

Câu 7: Hãy phân tích kênh phân phối và lựa chọn kênh phân phối bất động sản.

* Kênh phân phối là kênh để thực hiện các hoạt động đưa hàng hóa dễ dàng đến tay khách hàng mục
tiêu.
* Các căn cứ để lựa chọn kênh phân phối:
- Khách hàng:
+ Quy mô nhu cầu
+ Tần suất khách hàng
+ Khoảng cách…
- Doanh nghiệp:
+ Mục tiêu kênh
+ Mục tiêu điều khiển kênh
+ Yêu cầu về độ bao phủ thị trường
+ Đặc điểm của sản phẩm
+ Đặc điểm của DN về quy mô, danh mục sản phẩm…
- Trung gian phân phối
+ Sự sẵn có và sẵn sàng của các trung gian
+ Yêu cầu của các trung gian
+ Khả năng của các trung gian
- Kênh của đối thủ
+ Hiệu quả phân phối

+ Loại sản phẩm
+ Mức độ liên kết
+ Môi trường Marketing
- Có nhiều kênh phân phối bất động sản như: phân phối trực tiếp, phân phối qua trung gian, trung gian
có thể là cá nhân hoặc tổ chức…


Cùng Thảo Luận Nhé!